New Page 1

HOME

 
 

Phần Nhất :
THƯỢNG CỔ VÀ TRUNG CỔ

Chương Mười

GIÁO HỘI THỜI CHUYỂN MÌNH

CỦA THẾ GIỚI TRUNG CỔ (t.k. XIV-XV)
 

I. Giáo hội Tây phương thời khủng hoảng

1. Cuộc tranh chấp giữa Philippe le Bel và Bonifaciô VIII (1296-1303)

2. Tòa thánh ở Avignon (1309-76)

3. Đại Ly giáo Tây phương (1378-1417)

4. Cuộc Ly giáo chấm dứt: Công đồng Constancia, và Bâle Ferrara Florencia 

II. Khoa học thánh và Văn nghệ Phục hưng

1. Thần học, triết học, thần bí học và giảng thuyết

2. Đời sống đạo đức và tu trì

3. Nhân bản chủ nghĩa và Văn nghệ Phục hưng

III. Giáo hội hạ bán thế kỷ XV

1. Các Giáo hoàng thời Văn nghệ Phục hưng: từ đức Nicolas V đến đức Phaolô II 

2. Các Giáo hoàng thời Văn nghệ Phục hưng: từ đức Sixtô IV đến đức Leô X  

 

Sự trưởng thành của các dân tộc Tây phương đi dần đến chỗ chấm dứt sự can thiệp của ngôi Giáo hoàng trong lãnh vực chính trị. Vấn đề thần quyền chính trị được các bậc trí thức và luật gia đem ra tranh luận vô cùng sôi nổi. Chắc chắn Giáo hội vẫn nắm giữ vai trò trọng yếu trong lãnh vực văn hóa, nghệ thuật. Nhưng người ta không còn chấp nhận chính trị và văn minh lệ thuộc vào Giáo hội nữa.

Ngay từ cuối thế kỷ XIII, các Giáo hội địa phương đã có khuynh hướng biến thành Giáo hội quốc gia trong lý thuyết và trong thực hành; dĩ nhiên họ vấp phải phản ứng của Roma. Những toan tính nguy hiểm muốn thiết lập cho Giáo hội một chế độ đại nghị hoặc dân chủ, đã làm lu mờ quyền uy tối cao của Roma, và gây cho toàn thể Kitô giới những thiệt hại không lường được. Cũng từ đấy nhiều phong trào dân tộc phát sinh từ giáo thuyết Wiclif và Huss.

Đời sống Giáo hội và tôn giáo biến đổi và dao động. Trong lãnh vực thiêng liêng, một thần bí học cao siêu và thâm sâu thu hút nhiều tâm hồn sống đời sống nội tâm, tuy có phần lập dị. Từ thế kỷ XIV, xuất hiện những học phái có khuynh hướng bình luận và chủ quan, đặc biệt duy danh chủ nghĩa. Do đấy, nổi dậy một cá thể chủ nghĩa ưa thích bình luận các đạo lý, cũng như những truyền thống của giáo hội.

Tuy gặp phải những thử thách rất nặng nề trong thời chuyển mình của thế giới đang đi tìm một thế quân bình, tuy Giáo triều và một phần lớn hàng giáo sĩ lâm cảnh khủng hoảng và bị bêu xấu, tòa nhà Giáo hội vẫn đứng vững, để tiến tới thời canh tân và cải cách thế kỷ XVI.[1]


I

GIÁO HỘI TÂY PHƯƠNG THỜI KHỦNG HOẢNG


1. Cuộc tranh chấp giữa Philippe le Bel và Bonifaciô VIII (1296-1303).

Triều đại của đức Bonifaciô VIII (1294-1303) gặp ngay khó khăn với Philippe IV le Bel (1285-1314) vua nước Pháp, về ván đề quyền bính. Đức Thánh Cha nói mình có trọn quyền trực tiếp trong phạm vi thiêng liêng và quyền gián tiếp trong lãnh vực trần thế đối với các vua chúa. Đó là nguyên nhân sâu xa gây nên một cuộc tranh chấp vô cùng sôi nổi từ năm 1296.

Hạ bán thế kỷ XIII, hai nước Anh Pháp thường xảy ra những cuộc đụng độ về ngôi báu, gây thiệt hại cho hoạt động của binh Thánh giá. Các đức Giáo hoàng nhiều lần phải can thiệp giảng hòa, nhưng hầu như vô hiệu. Để ngăn ngừa chiến tranh có thể xảy ra giữa Philippe le Bel và Edward I (1272-1307), năm 1297 đức Thánh Cha Bonifaciô VIII, bằng một vạ tuyệt thông, cấm hàng giáo sĩ Pháp cũng như Anh không được nộp một cắc tiền thuế cho nhà vua. Philippe le Bel phản ứng ngay bằng cách cấm đưa vàng ra nước ngoài, trục xuất các nhân viên thâu thuế của Giáo hoàng và các chủ ngân hàng Ý hoạt động cho Roma. Tức thì, một Sắc lệnh do đức Bonifaciô ban hành với lời lẽ đe dọa. Sắc lệnh được trả lại bằng một văn thư với những lý luận nóng nảy quá khích của luật sư Pierre Flote, tư pháp đại thần của Philippe. Thế là thư từ qua lại tới tấp gây nên một cuộc bút chiến. Nhưng rồi hai bên cùng lắng dịu. Paris cũng như Roma bấy giờ thực sự không muốn chiến tranh.

Vấn đề trở lại vào năm 1301. Năm Toàn xá 1300 có cả 100.000 người hành hương tới Roma, làm cho quyền uy Giáo hoàng lại bắt đầu lên. Tin tưởng sẽ đạt thắng lợi cho quyền tối cao thiêng liêng và trần thế, đức Bonifaciô VIII quay trở lại chống Philippe le Bel. Trong khi đó, khâm sai Tòa thánh, đức cha Saisset giám mục thành Pamiers, bị nhà Vua bắt giữ, sau khi bị tố cáo âm mưu dấy loạn. Giáo hoàng đòi phóng thích, tuyên bố rút lại các đặc ân đã ban và công bố Tông chiếu Ausculta fili, loan báo triệu tập một công đồng nhằm giải quyết vấn đề Pháp quốc. Nhưng Philippe nhất định không chịu đặt quyền mình dưới công đồng, vì lẽ ông xác tín quyền bính của ông là do Thiên Chúa chứ không bởi Giáo hội. Cả nước Pháp xôn xao, nhất là từ khi phổ biến một Tông chiếu giả mạo và một văn thư phúc đáp cũng giả mạo, trong đó có những lời nhục mạ và nạt nộ nhau rất bỉ ổi. Ngày 10-4-1302, Quốc dân đại hội được triệu tập tại vương cung thánh đường Notre-Dame, gồm các đại diện của ba giai cấp: giáo sĩ, quý tộc và thứ dân (États genéraux). Lần thứ nhất nhà Vua được các đại diện thứ dân cùng với hàng quý tộc hoan nghênh và ủng hộ. Sau đó, một công đồng cũng được họp tại Roma (1.11.1302). Tông chiếu Unam Sanctam nhắc lại ý nghĩa của thanh gươm hai lưỡi sắc bén trong Tân ước (Kh I, 16; II, 2). Đức Giáo hoàng còn tuyên bố tháo lời thề tru­ng thành với nhà Vua cho một số lãnh chúa chư hầu, và chuẩn bị phạt vạ tuyệt thông vua nước pháp. Nhưng một hành động của võ lực đã làm cho những quyết định trên không thực hiện được.

Ngày 7.9.1303, Guillaume Nogaret nhận lệnh, đã cùng với mấy anh em nhà Colonna, đến bắt đức Bonifaciô bấy giờ đang ở Anagni. Cụ già 86 tuổi tỏ ra can đảm và cao thượng, cương quyết không từ chức trước bạo lực. Đức Thánh Cha được phóng thích sau đó, nhưng vì quá buồn rầu, ngài từ trần tại Roma vào mấy tuần lễ sau (11.10.1303). Một tu sĩ hiền lành thánh thiện dòng Đaminh nên kế vị, tức chân phước Benedictô XI (1303-04). Đức tân giáo hoàng không muốn trở lại vấn đề, nên cuộc tranh chấp được coi là kết thúc.[2] Cũng từ đấy chấm dứt quyền Giáo hoàng trên vua chúa trong lãnh vực chính trị và quốc gia.


2. Tòa thánh ở Avignon (1309-76)

Đức Thánh Cha Beneđictô băng hà ngày 7.7.1304 sau 8 tháng cai trị Hội thánh. Ngày 18 tháng 7, 16 hồng y họp tại Perusa để bầu Giáo hoàng mới. Hội đồng bầu cử chia làm hai phe: một do hồng y Mattei Orsini bênh đức Bonifaciô VIII, phe kia do hồng y Napoleo Orsini bênh vua nước Pháp, kéo dài 11 tháng. Sau cùng, ngày 5.6.1305 đức cha Bertrand Got, tổng giám mục Bordeaux, đắc cử Giáo hoàng, hiệu Clementê V (1305-14). Lễ đăng quang được cử hành tại Lyon.

Chiến tranh giữa hai phe Guelfe (Bạch đảng) và phe Gibelin (Hắc đảng) bắt đầu từ giữa thế kỷ XII, bấy giờ vẫn còn xâu xé bán đảo Ý Đại Lợi, nhất là từ khi hoàng đế Henry VII nhà Luxembourg (1302-13) muốn tái diễn cái tham vọng của nhà Hohenstauphen, là đặt nền thống trị trên đất Ý và Roma.[3] Cuộc nội chiến đã làm cho nhiều Giáo hoàng phải rời khỏi giáo đô. Với đức Clementê V, một biến cố mới: Giáo hoàng không những ở ngoài Roma, mà ngoài cả nước Ý nữa, khi vị Giáo hoàng thiếu cương quyết này chịu áp lực của vua nước Pháp, lập Tòa thánh tại Avignon năm 1309.[4]

Các Giáo hoàng ở Avignon đều là người Pháp cả, cũng như phần lớn các hồng y: trong số 134 hồng y được đặt lên trong thời gian này thì 13 là Ý, 5 Tây Ban Nha, 2 Anh, 1 Thụy Sĩ, 113 Pháp. Tuy nhiên, không nên nghĩ rằng các ngài bỏ quên việc Giáo hội để chỉ lo phục vụ nước Pháp mà thôi. Riêng đức Thánh Cha Clementê vốn bệnh hoạn về thể xác, yếu đuối về tinh thần, nên đã bị Philippe le Bel điều khiển. Năm 1311-12, đại Công đồng họp tại Vienne (Pháp), đức Clementê phải chiều ý vua Philippe xin giải tán dòng Hiệp sĩ Đền thờ.[5] Cũng trong Công đồng này, đức Thánh Cha ban hành Hiến chế tín lý và luân lý kết án Olivi chủ trương sai lầm về linh hồn,[6] đồng thời kết án Béguard và Béguin (Fraticellos). tức nhóm chủ trương rằng: trần gian này loài người có thể đạt tới sự trọn lành, đến độ trở thành người không thể phạm tội. Đức Clementê còn lo liệu cho các giáo sĩ dòng triều hợp tác trong hoạt động tông đồ, thiết lập trường dạy ngôn ngữ Đông phương để mở rộng việc truyền giáo. Sau hết, Công đồng ban hành nhiều Sắc lệnh canh tân Giáo hội nhất là về đời sống hàng giáo sĩ. Đức Clementê V không khỏi mang tiếng là đã ban nhiều đặc ân và tiền bạc cho các vua Pháp, Anh, cho bà con thân thuộc và các hội từ thiện ở Pháp, làm công quỹ Tòa thánh hao hụt từ 1.040.000 xuống 70.000 tiền vàng (florin), khi ngài băng hà ngày 20.4.1314. Vua Philippe cũng mất năm ấy.

Tòa thánh trống ngôi hơn 2 năm, vì Hồng-y-đoàn chia làm ba phe. Sau cùng, ngày 7.8.1316 tại thánh đường tu viện dòng Đaminh ở Lyon, đức hồng y Jean d'Euse e Cadurco đắc cử và lấy hiệu Gioan XXII. Tuy đã 72 tuổi, đức tân Giáo hoàng vẫn sáng suốt và cương nghị, ngày đêm lo vấn đề tổ chức Giáo triều, thiết lập nhiều địa phận mới, hạn chế tối đa việc vua chúa can thiệp vào việc đạo, lo tăng ngân quỹ cho Giáo hội để đủ chi tiêu mở rộng việc truyền giáo ở Á châu, cũng như giúp đỡ người nghèo. Ngân quỹ đó lên tới 4.500.000 tiền vàng và khi ngài băng hà (4.11.1334) cũng còn 800.000.[7]

Người kế vị Giáo hoàng Gioan XXII là một thày dòng Xitô, đạo đức, nhiệm nhặt, đức Beneđictô XII (1334-42). Ngài chăm lo việc canh tân nơi hàng giáo sĩ dòng triều, đặc biệt dòng Beneđictô. Ngài không cho gia đình mình một ân huệ nào, và chỉ đặt những người xứng đáng lên các chức vị trong Giáo hội, do chính ngài đích thân sát hạch. Năm 1336, đức Beneđictô khởi công xây cất cung điện Giáo triều.

Sau đức Beneđictô XII là đức Clementê VI (1342-52): một vị Giáo hoàng tuy nghiêm khắc nhưng rất quảng đại, ngài là ân nhân của một thời đại tràn đầy đau khổ. Nạn hắc tử dịch (peste noire) năm 1348-49 tàn phá khắp Âu châu, giết hại trên 40 triệu người, đức Thánh Cha đã ra tay cứu trợ các bệnh nhân, nhất là ở Avignon, nơi có tới 62.000 người mắc bệnh. Sau ôn dịch là nạn đói, rồi khủng hoảng kinh tế xã hội, đến cuộc bắt bớ người Do Thái, và đặc biệt cuộc nội chiến xâu xé nước Ý: thành Roma vắng Giáo hoàng càng đồi tệ, tan hoang. Đức Clementê còn là một nhà ngoại giao nổi tiếng, một nhà giảng thuyết trứ danh, ưa thích văn nghệ. Chính ngài đã góp nhiều công vào thời Văn nghệ Phục hưng. Năm 1348, đức Thánh Cha bỏ tiền ra mua đứt thành phố Avignon, bấy giờ thuộc nữ hoàng Jeanne I (1343-82) xứ Sicilia.[8]

Đức Innocentê VI (1352-62) lên kế vị Đức Clementê VI. Năm 1353, tân Giáo hoàng sai hồng y Egidio Albornoz, một nhân vật có biệt tài ngoại giao, cùng binh sĩ đi Roma. Đức hồng y Egidio dần dần khôi phục được nước Tòa thánh và tái lập hòa bình tại giáo đô, dọn đường cho đức Thánh Cha trở về. Năm 1357, đức Innocentê ban hành đạo luật Constitutiones Algidianae, làm căn bản cho việc cai trị nước Tòa thánh.

Sau đức Innocentê VI là chân phước Urban V (1362-70) dòng Biển đức. Công việc của ngài là chấn hưng hàng giáo sĩ và các dòng tu cổ võ việc triệu tập các công đồng miền, khuyến khích việc học, ban cho các viện đại học nhiều đặc ân, thiết lập thêm nhiều. Dù vua nước Pháp can ngăn, dù các hồng y Pháp năn nỉ, đức Urban V quyết định bỏ Avignon, và ngày 16.10.1367 dân thành Roma hân hoan đón rước đức Thánh Cha trở về, lúc ấy Roma chỉ còn vào khoảng 30.000 người. Việc đức Thánh Cha đặt 8 hồng y mà chỉ có hồng y Francesco Tibaldeschi là người Roma, còn 7 vị kia là Pháp, đã làm cho dân Ý khó chịu và muốn nổi loạn. Thấy thế, mặc dầu Thánh nữ Birgitta (1303-73) hết lời khuyên can, đức Urban đã trở lại Avignon và băng hà tại đó.

Đức Gregori XI lên kế vị (1370-78) và là Giáo hoàng cuối cùng của cuộc lưu đày Avignon. Ngay từ đầu, đức Thánh Cha đã muốn về Roma để sự hiện diện của mình may ra có thể chấm dứt sự rối loạn trong nước Tòa thánh. Các sứ thần Pháp, các hồng y và chính thân phụ ngài can ngăn, nhưng đức Gregori XI được thánh nữ Catarina thành Sienna (1347-80), một giáo dân dòng Ba Đaminh, lấy tình con thảo nài khuyên và cổ võ tinh thần, nên đã quyết định lên đường về Roma. Đức Thánh Cha bỏ Avignon ngày 13.9.1376. sau 4 tháng đường trường khó khăn và gian nan, đã về tới Roma ngày 17.1.1377, chấm dứt cuộc lưu đày gần 70 năm. Theo một bức thư của thánh nữ Catarina, đức Thánh Cha ban nhiều Sắc lệnh canh tân hàng Giáo sĩ và Giáo phẩm.[9] Ngài cũng lo dẹp các lạc giáo, khuếch trương việc truyền giáo bên Persia, Hy-lạp, Armenia. Sau hết, ngài kêu gọi sự hiệp nhất Kitô giáo bằng việc tổ chức một cuộc gặp gỡ các vua châu Âu tại Sarzana trong xứ Liguria (Ý) năm 1378. Nhưng cuộc họp vừa bắt đầu thì đức Thánh Cha băng hà ngày 27.3.1378.


3. Đại Ly giáo Tây phương (1378-1417)

Việc Tòa Thánh dời qua Avignon là một nguyên nhân cho cuộc Ly giáo lâu gần 40 năm ở Tây phương.[10]

Đức Thánh Cha Gregori XI băng hà, hội đồng tuyển cử Giáo hoàng gồm 23 hồng y được triệu tập tại Roma, nhưng 7 hồng y vắng mặt (6 ở lại Avignon, 1 ở Tuscia). Số 16 hồng y hiện diện phần lớn vẫn là người Pháp (11 vị), lại chia làm 3 khối. Cuộc họp bắt đầu ngay sau bữa cơm trưa ngày 7.4.1378. Bên ngoài, dân thành Roma cầm võ khí họp tại công trường Thánh-Pherô với những khẩu hiệu, đòi một Giáo hoàng người Roma hay ít ra là người Ý (Romano lo volemo, o almeno Italiano). Các hồng y không tỏ dấu sợ hãi các ngài có sẵn 500 lính lê dương người Anh đóng không xa Roma và hội đồng cũng đã chuyển vào đồn Thiên thần khá kiên cố, có tướng Gandelin bảo vệ.

Nhưng dân chúng la hét om sòm suốt ngày đêm, thúc các hồng y phải bầu cho xong Giáo hoàng. Ngày 8, đức cha Guillaume Voulte giám mục thành Marseille, có phận sự canh giữ phòng hội đồng, sợ hãi và muốn trấn an dân chúng, cũng xin các hồng y cố gắng kết thúc cuộc bầu cử. Nhưng các hồng y vẫn chưa đi đến chỗ đồng ý, mãi cho đến 9 giờ sáng hôm đó các ngài mới thỏa thuận bầu một vị ở ngoài Hồng y đoàn, đức cha Bartolomeo Prignano người thành Napoli, tổng giám mục Bari, phó chưởng ấn Tông tòa, nhưng chỉ có 15 hồng y bỏ phiếu, đức hồng y Giacobini Orsini lánh mặt lấy lẽ không đủ tự do. Cũng ngày 8, trong khi cho người đi mời đức cha Prignano đến Vatican, sau bữa ăn trưa, 13 hồng y họp lại một lần nữa và tự do bỏ thăm, vẫn trúng đức tổng thành Bari. Hồng y Giacobini Orsini loan tin đã có Giáo hoàng mới, nhưng không nói tên, vì đức cha Prignano chưa tới Vatican.

Dân thành Roma nghe biết có Giáo hoàng mới, liền đổ xô vào Vatican đòi cho biết ai; bấy giờ nhiều tên được tung ra, kể cả tên đức tổng giám mục Prignano. Mấy vị giám mục sợ dân chúng nổi giận đập phá, vì Giáo hoàng đắc cử không phải là người Roma mà chỉ là người Ý, nên đã nhắc đến tên hồng y Francesco Tibaldeschi và nói gạt là ngài đắc cử, các hồng y cũng xin ngài cứ để dân chúng tin như vậy đặng trấn an họ. Nhưng dân chúng không đợi lời tuyên bố chính thức, liền lấy mũ áo cho đức hồng y Tibaldeschi và tung hô ngài là Giáo hoàng. Đức hồng y Tibaldeschi đỏ mặt lớn tiếng phủ nhận: “Tôi không phải là Giáo hoàng, nhưng là đức tổng giám mục thành Bari đắc cử Giáo hoàng”. Bấy giờ dân chúng mới chịu bỏ ngài một mình trước bàn thờ thánh Pherô.

Đang khi ấy đức cha Bartolomeo Prignano đến Vatican và nhận tin mình đắc cử Giáo hoàng. Nhưng không một vị hồng y nào có mặt, 6 vị sợ dân chúng đã trốn vào đồn Thiên thần, 4 vị đi khỏi Roma, các vị khác lẩn trốn trong thành. Chỉ còn một mình đức hồng y Tibaldeschi ở lại chính thức báo vị Giáo hoàng đắc cử. Ngày 9.4.1378, 12 hồng y hội lại trong điện Vatican để làm lễ “Tùng phục” (Adoration) và đức hồng y Pierre Vergne công bố cho dân Roma theo nghi thức thường lệ, đức tân Giáo hoàng lấy hiệu Urban VI (1378-89). Lễ đăng quang được cử hành trong đền Thánh-Pherô nhằm lễ Phục sinh (18 tháng 4) và đức hồng y Giacobini Orsini, người độc nhất không dự cuộc bầu cử, lại là người đặt triều thiên ba tầng cho đức tân Giáo hoàng. Ngày hôm sau, các hồng y báo tin này cho 6 hồng y còn ở lại Avignon, và ngày 8 tháng 5 cho các vua chúa.

Mấy tuần lễ đầu, đức Urban VI thi hành nhiệm vụ mà không cô sự phản đối. Ngài rất quen thuộc công việc hành chánh, nhưng tính tình cứng cỏi, lời nói chua cay đã làm mất lòng nhiều hồng y, nhất là hồng y Pháp. Chính thánh nữ Catarina thành Sienna đã nhiều lần khuyên ngài nên có thái độ nhã nhặn mềm dẻo, nhưng không kết quả. Đối với các vua chúa, ngài cũng không tế nhị hơn. Các hồng y muốn đức Urban sang Avignon, nhưng ngài bác bỏ và còn dự tính đặt nhiều hồng y người Ý để hồng y Pháp không còn chiếm đa số. Tất cả những hành động trên làm cho các hồng y không phải là người Ý đều bất mãn. Các vị nhớ lại những biến cố của ngày bầu cử, rồi sinh ra nghi ngờ và bối rối, sau cùng các ngài cho việc bầu cử bất hợp pháp và không thành. Tiếp đến việc hồng y Jean Grange, cố vấn vua Charles V (1364-80) nước Pháp, sang Roma cổ võ phe chống đối và hứa sẽ có sự ủng hộ của nhà Vua.

Cuối tháng 5 năm 1378, 13 hồng y ngoại quốc (viện cớ nóng bức bỏ Roma xuống Anagni công khai chống Giáo hoàng. Ngày 9.8.1378, 13 hồng y này gởi văn thư đi khắp nơi tuyên bố đức Urban đã được bầu lên bất hợp pháp, vì cuộc bầu cử đã diễn ra trong bầu khí của võ lực, các vị còn ra vạ cho đức Thánh Cha nữa. Mấy ngày sau, ba hồng y người Ý Giacobini Orsini, Pietro Orsini và Simon Borsano cũng đứng sang phe 13 hồng y nói trên, và hội tại Fondi. Chỉ một hồng y Tibaldeschi trung thành với đức Urban VI cho tới cùng (+7.9.1378). Như vậy là đức Urban mất hết hồng y, nhưng ngày 18.9.1378 ngài đặt 29 hồng y mới. Cũng ngày ấy, các hồng y đang họp ở Pondi nhận được thư của vua Charles V viết khuyên nên bầu Giáo hoàng mới. Các vị đã làm thật: ngày 20.9.1378 hồng y Robert Gebennis người Pháp được bầu làm Giáo hoàng, hiệu Clementê VII (1378-94). Ba hồng y người Ý không dự cuộc bầu cử, nhưng sau cũng nhìn nhận tân Giáo hoàng. Đức Clementê VII cùng với các hồng y của mình sang Avignon và lập Giáo triều tại đó (tháng 6 năm 1379): cuộc Ly giáo bắt đầu.

Ngày 16.11.1379, vua Charles V truyền cho quốc dân phải nhận Clementê là Giáo hoàng. Ngày 19 cũng tháng ấy, đức Urban VI ra vạ tuyệt thông cho Clementê VII; để đáp lại, Clementê cũng tuyên vạ tuyệt thông cho Urban.[11] Clementê được các nước Pháp, Savoie, Tô Cách Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Napoli nhìn nhận. Các nước Đức, Anh, Ái Nhĩ Lan, Bỉ, Bắc và Trung Ý, Bohemia, Hung Gia Lợi, Ba Lan theo Urban. Đại học Paris ban đầu tranh luận sôi nổi, nhưng sau cũng nghiêng về Giáo hoàng ở Avignon. Các dòng tu hành khất chia làm hai, đến cả các đấng thánh, mỗi vị đứng về một trong hai phe. Bênh vực đức Urban VI có thánh nữ Catarina thành Sienna, thánh nữ Catarina nước Thụy Điển, thánh Pherô xứ Aragon. Phe Clementê VI lại được sự ủng hộ của nhiều nhà giảng thuyết, cải cách, thần bí học nổi tiếng, như thánh Vinh sơn Ferrer, thánh nữ Coletta Corbie, chân phước Pherô xứ Luxemburg. Nếu vị ban đầu bênh Clemente, nhưng sau lại bỏ người kế vị ngài là Beneđictô XIII.

Cuộc ly khai làm tê liệt việc phục hưng Giáo hội đang cần thiết làm giảm bớt lòng trọng kính và vâng phục Tòa thánh, giáo dân hoang mang không biết vị Giáo hoàng nào do Thiên Chúa đặt lên. Nhiều lạc giáo như John Wiclif và Jan Huss, không bị ai lên án, tự do hoạt động. Vua chúa cũng lợi dụng thời xáo trộn này càng nhúng tay vào nội bộ Giáo hội, để dần dần phát sinh ra cái tục lệ Placet regium (Thỉnh cầu vua) rất tai hại.

Đức Urban VI vẫn khó tính, nhưng rất thanh liêm trong việc cai trị: không lo tích trữ tiền của hay tìm người cho phe mình một cách đáng trách. Trái lại, đức Clementê VII tìm hết cách để có tiền bạc và người ủng hộ. Đức Urban băng hà ngày 15.10.1389 tại Roma. Ngày 2 tháng liền sau, 14 hồng y họp bầu đức hồng y Pietro Tomacelli quê thành Napoli lên kế vị tức Bonifaciô IX (1389-1404). Đức Clementê VII cũng từ trần ngày 16.9.1394, và ngày 29 cùng tháng, các hồng y tại Giáo triều Avignon chọn đức hồng y Pedro de Luna, người Tây Ban Nha, làm Giáo hoàng tức Beneđictô XIII (1394-1423): một nhân vật đạo đức, thông minh, tính tình đanh thép. Như vậy, hai cuộc bầu cử vừa qua kéo dài thêm cuộc ly khai và hứa hẹn một giai đoạn vô cùng rối loạn.

Giữa hoàn cảnh bi đát này, đại học Paris, các nhà thần học và giáo luật như Henri Langentein, Conrad Gelnhausen, Pierre d'Ailly, đã cố gắng tìm một giải pháp trung dung để chấm dứt cuộc ly khai. Họ đưa ra ba giải pháp: 1) Giải pháp “thoái vị” (Via cessionis): cả hai cùng từ chức; 2) Giải pháp “hòa đàm” (Via compromissi): một trọng tài đứng ra hòa giải; 3) Giải pháp “Thượng hội đồng” (Via Synodi Generalis): một đại Công đồng sẽ được triệu tập để giải quyết.

Có lẽ giải pháp thứ nhất chóng đem lại sự hiệp nhất cho Giáo hội hơn cả. Nghĩa là cả hai Giáo hoàng cùng tự ý từ chức, rồi hai Hồng y-đoàn hội lại thành một hội đồng bầu cử Giáo hoàng mới. Hai bên đều hứa, nhưng không đi đến thực hiện, vì đức Beneđictô XIII không bao giờ tỏ ra thành thực từ chức, kể cả khi hai nước Pháp và Tây Ban Nha thôi ủng hộ. Còn đức Bonifaciô IX và các người kế vị: đức Innocentê VII (1405-06) và đức Gregori XII (1406-17), tuy có thiện chí hơn, nhưng không chịu đặt mình ngang hàng với Beneđictô XIII.

Năm 1407, cả hai bên đã đồng ý theo đề nghị của vua Charles VI (1380-1422) nước Pháp, là sẽ đến Savona để cùng nhau tìm biện pháp hòa giải. Ngày 24 tháng 9 năm ấy, Beneđictô XIII đến Savona, nhưng Gregori XII không tới vì sợ đối phương có âm mưu, và đề nghị họp ở Port-Vendres. Cuộc ly khai vì thế vẫn tiếp tục.

Các vua chúa và hồng y thấy thế, lên tiếng tố cáo cả hai Giáo hoàng thiếu thiện chí, và nhất định tự giải quyết lấy. Hồng-y-đoàn ở Roma bỏ Gregori, Hồng-y-đoàn ở Avignon cũng bỏ Beneđictô, rồi cả hai hội lại ở Pisa, tuyên bố: không Giáo hoàng, thì Hồng-y-đoàn cai trị Giáo hội, và để chấm dứt cuộc !y khai cần phải có đại Công đồng. Đây là lần thứ nhất các hồng y đứng ra triệu tập Công đồng, từ dó phát sinh chủ thuyết Đại Công đồng trên Giáo hoàng, nghĩa là mọi quyền bính Giáo hội ở trong Giáo hội chứ không ở trong tay vị đứng đầu. Vì đại diện cho toàn thể Giáo hội, nên đại Công đồng có toàn quyền và trên cả Giáo hoàng, trong khi ngài chỉ là “người tôi tớ thứ nhất của Giáo hội” (Primus servus Ecclesiae). Đấy là chủ thuyết mà thần học sau này đã lên án là sai lầm.

Trong khi ấy, từ ngày 2 đến 5 tháng 7 năm 1408, đức Gregori họp công đồng tại Aquilea, và để đủ số hồng y ngài đặt thêm nhiều vị mới, trong số này có những vị là cháu ngài. Ngày 7.11.1408, đức Beneđictô XIII cũng họp công đồng Perpignan. Công đồng do các hồng y triệu tập tại Pisa ngày 28.3.1409, có sự tham dự của 24 hồng y 80 giám mục và 102 đại diện các giám mục vắng mặt, 87 đan viện phụ và 200 đại diện các đan viện phụ vắng mặt, bề trên các dòng Đaminh, Phansinh, Cát minh, Âutinh, đại diện các đại học và vua chúa, 300 nhà thần học và giáo luật. Đức hồng y niên trưởng Giáo Malesset, do đức Gregori XI đặt lên từ năm 1375, chủ tọa công đồng.

Ngay những phiên họp đầu, công đồng đã nói đến hai Giáo hoàng và kết án các ngài là cố chấp. Trong phiên họp thứ 8 (10 tháng 10), các nghị phụ tuyên bố công đồng Pisa là đại Công đồng có quyền tối thượng trong Giáo hội, trên cả Giáo hoàng. Trong phiên họp 15 (5 tháng 6), công đồng kết án Beneđictô XIII và Gregori XII là “bè phái, rối đạo công khai và bội ước” (schismatici, haeretici notorii, perjuri) và là những “gương xấu” cho cả Giáo hội. Để phản ứng việc truất phế này, đức Beneđictô XIII đặt thêm 12 hồng y mới.

Ngày 26.6.1409, các hồng y bầu đức hồng y Pietro Philarghi dòng Phansinh, quê ở Candia đảo Creta, làm Giáo hoàng với tước hiệu Alexanđrô V (1409-10), ngài chủ tọa các phiên họp chót của công đồng Pisa. Cuộc ly khai bước sang giai đoạn thê thảm khi Giáo hội một lúc có ba Giáo hoàng: Gregori XII ở Roma, Beneđictô XIII ở Avignon và Alexanđrô V lập Giáo triều Bolonia. Hai vị thứ nhất cùng lên tiếng phủ nhận công đồng Pisa. Nhưng hầu hết giáo dân Tây phương, nhất là ở Pháp, Anh, Bồ Đào Nha, Bohemia. Đức, Ý, đều nhìn nhận đức Alexandrô V, và cầu mong cuộc ly khai sẽ chấm dứt. Tuy nhiên, họ không khỏi nghi ngờ về thẩm quyền của các hồng y trong việc triệu tập đại Công đồng và bầu Giáo hoàng mới.

Khi đức Gregori XII vì lý do chiến tranh bó buộc phải rời khỏi giáo đô, thì Roma thuộc quyền đức Alexanđrô V. Tháng 5 năm 1410 đức Alexanđrô từ trần tại Bolonia. Ngày 17 tháng ấy, 17 hồng y chọn đức hồng y Balthasar Cossa, người thành Napoli, lên ngôi Giáo hoàng hiệu Gioan XXIII (1410-15) đóng đô tại Roma. Năm 1413, đức Gioan cũng phải bỏ giáo đô cho Ladislas chiếm đóng, đi cầu cứu hoàng đế La Đức Sigismund (14111 -37).[12] Chúa Quan phòng đã dùng hai nhân vật này để dọn đường chấm dứt cuộc ly khai bằng triệu tập một đại Công đồng ở Constancia.


4. Cuộc Ly giáo chấm dứt :
Công đồng Constancia (1414-18) và Bâle-Ferrara-Florencia (1431-43)

Theo lời yêu cầu của hoàng đế Sigismund, ngày 9.10.1413 đức Gioan XXIII triệu tập đại Công đồng, ấn định khai mạc vào ngày lễ các thánh năm 1414, ngài cũng mời hai Giáo hoàng Gregori XII và Beneđictô XIII đến tham dự, nhưng hai vị này không tới. Riêng đức Gregori XII có lên tiếng sẽ từ chức, nếu cả hai vị kia cũng làm như vậy. Hiện diện trong Công đồng Constancia có 9 hồng y, 200 tổng giám mục và giám mục, 100 đan viện phụ, 300 nhà thần học và giáo luật, khoảng 8.000 giáo sĩ cấp dưới. Hoàng đế Sigismund cùng 1.000 lính kỵ mã, nhiều vua chúa, quận công, bá tước cũng có mặt. Thêm vào đó, 70.000 giáo dân các nơi kéo đến Constancia.[13]

Các phiên họp khoáng đại diễn ra trong thánh đường chính tòa Constancia, chương trình nghị sự gồm ba điểm chính: 1) Tái lập sự thống nhất Giáo hội; 2) Kết án John Wiclif và Jan Huss; 3) Cải cách Giáo hội. Công đồng chia làm ba giai đoạn: Giai đoạn I, đức Gioan XXIII ngồi ghế chủ tọa “danh dự”, kéo dài từ 16.11.1414 đến phiên họp hạ bệ đức Gioan XXIII ngày 29.5.1415; Giai đoạn II, từ khi đức Gregori XII tham dự qua hai sứ giả trong phiên họp 14 (4.7.1415) cho đến khi bầu đức Martin V (11.11.1417); Giai đoạn III, từ khi bầu đức Martin V, và ngài chủ tọa các phiên họp, cho đến phiên họp 45 ngày 22.4.1418.

Đức Gioan XXIII tới Constancia cùng với nhiều nhân vật người Ý từ cuối tháng 10 năm 1414, mang tham vọng sẽ được Công đồng nhìn nhận mình là Giáo hoàng duy nhất. Ngài được tiếp rước như vị Giáo hoàng chính thức. Nhưng ngay trong phiên họp đầu, các nghị phụ đề nghị cả ba Giáo hoàng cùng từ chức, nghĩa là cả Gioan XXIII. Việc đầu phiếu sẽ không theo đầu người, mà theo quốc gia: Đức, Pháp, Anh, Ý, đến sau thêm Tây Ban Nha (khi Biển đức XIII bị cách chức). Trong phiên họp kế tiếp, Giáo hoàng thành Pisa bị tố cáo nhiều tội để không ai bầu lại ngài sau khi đã từ chức. Thấy mình bị bỏ rơi, Gioan XXIII liền bỏ trốn vào buổi chiều ngày 20.3.1415; ý của ngài là muốn phá Công đồng. Việc bỏ trốn này làm mọi người bỡ ngỡ và xôn xao, nhưng nhờ có thiện chí và tài khéo của hoàng đế Sigismund cùng nhiều vị giáo sĩ xuất sắc, nhất là linh mục Jean Gerson, viện trưởng đại học Paris và đức hồng y Pierre d’Ailly, nên Công đồng vẫn tiếp tục.

Sau một bài thuyết trình của Gerson, Công đồng chấp nhận thuyết “Quyền tối thượng thuộc Công đồng” là hợp với đạo lý của Giáo hội. Công đồng đã được triệu tập một cách hợp pháp trong Chúa Thánh Thần, tạo thành một đại Công đồng làm đại diện cho Hội thánh Công giáo. Công đồng có quyền trực tiếp bởi Chúa Kitô, nên hết mọi người, kể cả Giáo hoàng, đều phải vâng phục trong mọi sự liên can đến đức tin, hiệp nhất và cải cách Hội thánh. Công đồng không thể bị giải tán do sự bỏ trốn đáng trách của Gioan và nhiều vị khác, nhưng vẫn còn nguyên vẹn sự hợp pháp và quyền bính. Công đồng sẽ không giải tán trước khi chưa thực hiện được sự hiệp nhất và cải cách, cũng không di chuyển đi nơi khác nếu công đồng không muốn.[14]

Đức Gioan XXIII sau khi đi khỏi Constancia đã bị chặn bắt tại Brisach, và bị giam trong một lâu đài gần Mannheim. Trong khi đó, phiên họp 12 (29.5.1415) cách chức Gioan về tội “cố tình kéo dài cuộc ly khai bằng việc bỏ trốn đáng trách, bằng tội mại thánh và đời sống gương xấu”. Đến lượt đức Gregori XII cử đức hồng y Giovanni Domenici và công tước Caroli Malatesta đến tham dự Công đồng từ phiên họp 14 (4.7.1415), tuyên bố thoái vị. Chỉ còn một mình đức Beneđictô XIII; hoàng đế Sigismund đích thân đến Perpignan xin ngài từ chức, ông “già gân” vẫn không chịu bỏ ngai Giáo hoàng. Từ đấy Pedro de Luna không còn được nước Tây Ban Nha hậu thuẫn và nhìn nhận nữa, thánh Vinh sơn Ferrer cũng từ bỏ ngài (12.1.1416). Sau cùng, Beneđictô bị Công đồng cách chức về tội “bội phản, phe phái và rối đạo” trong phiên họp 37 (26.7.1417). Nhưng Pedro de Luna vẫn cho mình là Giáo hoàng chính thức không ai có quyền cất chức; ngài rút lui về một tu viện ở Peniscola gần thành Valencia.[15]

Sau khi chấp nhận sự từ chức của một Giáo hoàng và truất phế hai vị khác, Công đồng cho họp hội đồng tuyển cử để bầu Giáo hoàng mới.[16] Thấy 23 hồng y hiện diện không đủ uy tín, Công đồng đã tăng cường cho hội đồng bầu cử 30 giám mục thuộc năm nước Pháp, Anh, Đức, Ý và Tây Ban Nha, mỗi nước 6 vị.

Sau 4 ngày hội kín, ngày 11.11.1417, cử tri đoàn hợp ý bầu đức hồng y Otto Colonna, người thành Roma, thông thạo giáo luật có tinh thần hiếu hòa và khiêm tốn, lên ngôi Giáo hoàng, với tước hiệu Martin V (1417-31). Suốt ngày đêm hôm đó, chuông các thánh đường, tu viện vang lên khắp trời Âu, báo hiệu cuộc ly khai chấm dứt, đức tân Giáo hoàng chủ tọa các phiên họp chót của Công đồng.

Trước đấy, trong phiên họp thứ 8 (4.5.1415), Công đồng lên án lạc thuyết Wiclif (+ 1384) chối sự “biện thực” (transsubs-tantiation) trong bí tích Thánh Thể. J. Huss người xứ Bohemia, tín đồ của Wiclif, đã bị đức Alexanđrô V phạt vạ tuyệt thông, nay cũng bị Công đồng lên án thiêu sinh trong phiên họp 15 (6.7.1415), và trao cho nhà cầm quyền thi hành. Huss chịu chết một cách can đảm và cầu nguyện sốt sắng. Gần một năm sau, ngày 30.5.1416 giáo sư Jérome thành Praga, bạn của Huss, cùng lãnh nhận một bản án. Nhưng hai án đó đã làm cho đảng Huss nổi dậy chống các nhà cầm quyền đạo đời xứ Bohemia trên nửa thế kỷ.

Phiên họp 43 ngày 21.3.1418, đức Thánh Cha Martin V ban hành nhiều Sắc lệnh cải tổ Giáo hội từ trên xuống dưới, ấn định số hồng y từ nay không quá 24 vị, và phải được chọn trong khắp Giáo hội. Đồng thời, ngài ký thỏa hiệp với các nước Đức, Pháp, Anh, Ý và Tây Ban Nha về sự đóng góp cho Tòa thánh, và quyền nại đến Roma; việc này làm giảm quyền các giám mục. Cùng với phiên họp 45, Công đồng bế mạc ngày 22.4.1418. Đức Martin bỏ Constancia ngày 15 tháng 5 năm ấy, qua Mantua và Florencia, về tới Roma ngày 28.9.1420, được hàng giáo sĩ và giáo dân đón rước rất đông, xứng vị Đại diện Chúa Kitô.

Công đồng Constancia không phải là đại Công đồng trong giai đoạn I, và các Sắc lệnh về quyền của Công đồng trên Giáo hoàng đã không có giá trị về tín lý. Đức Thánh Cha Martin V không châu phê hết mọi Sắc lệnh của Công đồng, nhưng chỉ châu phê những gì ích lợi cho đức tin và phần rỗi các linh hồn. Đức Eugeniô IV người kế vị đức Martin V, năm 1446 cũng tuyên bố chỉ nhìn nhận và tôn trọng Công đồng Constancia trong giới hạn, các Sắc lệnh của Công đồng ấy không nghịch với chức vị và quyền tối cao của Tòa thánh.

Công đồng Constancia, trước khi bầu Giáo hoàng mới, đã ấn định cứ 5 năm sẽ triệu tập một đại Công đồng. Đức Martin V dù không ưa thích danh từ “Đại Công đồng” cũng đã nghe theo các vua chúa và hàng giám mục cho triệu tập Công đồng tại Bâle, và ủy quyền cho đức hồng y Giuliano Cesarini. Nhưng đức Thánh Cha băng hà ngày 20.2.1431, khi Công đồng chưa kịp khai mạc. Đức Eugeniô IV (1431-47), nguyên là một tu sĩ dòng Âutinh rất đạo đức và khắc khổ, lên kế vị. Đức tân Giáo hoàng thỏa thuận cho hồng y Cesarini khai mạc Công đồng Bâle (tháng 7 năm 1431). Nhưng các nghị phụ đến tham dự rất thưa thớt, chính đức Eugenio cũng không thể đến để chủ tọa. Vì những lẽ trên, ngày 18.12.1431 đức Thánh Cha ban Tông chiếu giải tán Công đồng Bâle, và công bố sẽ họp tại Bolonia để các sứ giả của Constantinopoli tới dễ dàng.

Trong khi đó, số các nghị phụ đến Bâle thêm đông và đã nhóm phiên họp thứ nhất ngày 14.12.1431, để nghe Sắc lệnh của đức Martin V và đức Eugentiô IV triệu tập Công đồng Bâle, đồng thời ấn định chương trình nghị sự gồm ba điểm: 1) Tận diệt lạc giáo (Jan Huss); 2) Tái lập hòa bình; 3) Cải cách Giáo hội. Nhưng ngày 23.12.1431, sứ giả Daniel Rampi trao cho hồng y Cesarini Tông chiếu giải tán Công đồng. Nghe đọc Tông chiếu, các nghị phụ hết sức bất bình, và trong phiên họp thứ 2 ngày 15.2.1432 các nghị phụ tuyên bố Công đồng Bâle cứ tiếp tục, được hoàng đế và nhiều vua chúa ủng hộ. Các nghị phụ còn lập lại quyết định của Công đồng Constancia về quyền tối thượng của đại Công đồng.

Phiên họp thứ 3 ngày 29.4.1432, các nghị phụ sai sứ giả đến xin đức Giáo hoàng bỏ ý định giải tán Công đồng, đồng thời xin ngài đích thân hoặc sai đặc sứ đến chủ tọa. Vì hiếu hòa, đức Eugeniô IV bằng lòng cho Công đồng tiếp tục tại Bâle. Ngày 11.9.1433: ngài ra một Văn thư rút lại Tông chiếu giải tán, nhưng phủ nhận quyền tối thượng của Công đồng.

Năm 1437, khi Công đồng bàn vấn đề hiệp nhất với Giáo hội Đông phương, đức Eugeniô đề nghị di chuyển Công đồng đến một nơi trong nước Ý, để anh em Đông phương dễ lui tới. Nhưng phần lớn các nghị phụ chống đối, và đề nghị cứ họp ở Bâle hoặc ở Avignon hay thành nào khác trong xứ Savoie. Công đồng còn đòi đức Thánh Cha trong vòng 60 ngày phải đến trình diện. Trước thái độ hống hách đó, đức Eugeniô ra Tông chiếu Doctoris Gentium ngày 18.9.1437 đưa Công đồng về Ferrara, là nơi ngài đã hội ý với hoàng đế Byzantin.

Ở lại Bâle, chỉ còn một mình hồng y người Pháp tên là Louis Aleman cùng với 10 giám mục và gần 300 nhà thần học, luật gia, tu sĩ để họp “công đồng ly khai” chống lại đức Eugeniô IV. Ở Pháp, tháng 5-6 năm 1438 một hội đồng giáo sĩ do vua Charles VII (1422-61) triệu tập, nhìn nhận với một vài sửa đổi 23 sắc lệnh “cải cách” của Bâle. Các sắc lệnh này được công bố thành luật quốc gia trong Pragmatique Sanction de Bourges ngày 7.7.1438. Đó là nguồn gốc Pháp giáo chủ nghĩa (Gallicanisme) sau này. Ở Đức, nghị hội họp ở Frankfurt tháng 3 năm 1438, tuy đã tuyên bố đứng ngoài cuộc tranh chấp giữa Giáo hoàng và Công đồng, nhưng khi họp tại Mainz tháng 3 năm 1439 cũng chấp nhận các sắc lệnh “cải cách” của Bâle.

Ngày 16.5.1439 công đồng Bâle dưới sự chủ tọa của đức hồng y Aleman, công bố ba điều sau đây làm như “chân lý đức Tin” (veritates Fidei): 1) Đại Công đồng có quyền trên Giáo hoàng 2) giáo hoàng không có quyền di chuyển hay giải tán Công đồng, nếu không có sự đồng ý của chính Công đồng; 3) Ai cố tình chống hai điều trên là rối đạo. Và ngày 25 tháng liền sau, công đồng tuyên án hạ bệ đức Eugeniô IV. Để có Giáo hoàng mới, ngày 5.11.1439 hồng y Aleman, 11 giám mục, 7 đan viện phụ, 5 nhà thần học, 9 luật gia đã bầu ông hoàng Amédée VIII xứ Savoie làm Giáo hoàng, hiệu Felix V.

Công đồng hiệp nhất Giáo hội Hy Lạp và Latinh khai mạc ở Ferrara ngày 8.1.1438, chính thức tiếp tục Công đồng Bâle. Đức Thánh Cha Eugeniô đích thân chủ tọa từ cuối tháng 1 năm 1438. Phái đoàn Hy Lạp đến rất đông, khoảng 700 người; dẫn đầu có hoàng đế Joannes VIII Paleologus (1425-48), đức giáo chủ Josephus thành Constantinopoli và nhà thông thái Bessarion tổng giám mục thành Nicea, một nhân vật rất thiết tha với sự hiệp nhất, đến sau đã được đặt làm hồng y (1439) và ở lại nước Ý sau Công đồng. Các giáo chủ Đông phương khác đều cử đại diện: Giáo hội Nga có đức Isidorus, giáo chủ thành Kiev, ngài cũng có nhiệt huyết với sự hiệp nhất.

Đầu năm 1439, Công đồng di chuyển sang thành Florencia, vì dân thành này hứa giúp đức Thánh Cha trong việc đài thọ các phí tổn cho phái đoàn Hy Lạp. Công đồng bàn đến danh từ Filioque trong kinh Tin kính. Sau nhiều ngày tranh chấp sôi nổi, giáo lý của bên La linh về Chúa Thánh Thần (bởi đức Chúa Cha và đức Chúa Con mà ra) được mọi người chấp nhận, trừ đức cha Marcus Eugenius, tổng giám mục Epheso, nhà hộ giáo nổi tiếng của bên Hy Lạp. Bên Latinh có cha Juan Montenegro dòng Đaminh và cha Ambrosio Traversari dòng Camaldoli, được coi là xuất sắc hơn hết trong các cuộc tranh luận. Công đồng cũng thông qua một cách nhanh chóng nhiều vấn đề khác như luyện ngục, bánh không men, quyền tối thượng thuộc Tòa thánh Roma.

Ngày 6.7.1439, Sắc lệnh hiệp nhất Laetentur coeli được các vị đại diện Giáo hội Hy Lạp ký, và đức Thánh Cha công bố. Như vậy là Công đồng đã đạt được mục tiêu chính. Công đồng cũng công bố quyền tối thượng ngôi Giáo hoàng qua một bản tuyên ngôn quan trọng đã đ­uợc biểu quyết: “Đức Giáo hoàng Roma là người kế vị thánh Pherô và là Đại diện Chúa Kitô, ngài là đầu Giáo hội và là Cha cùng là Thầy mọi giáo dân, có quyền dạy bảo, cai trị và điều khiển toàn thể Hội thánh”. Công đồng còn ký những Sắc lệnh hiệp nhất với Giáo hội Armeno (22.11.1439) và với Giáo hội Giacobit (4.2.1442). Ngày 25.4.1442, Công đồng được đưa về Roma, và kết thúc vào năm sau.

Đức Thánh Cha Nicolas V (1447-55) lên kế vị đức Eugenio IV; ngài ký thỏa hiệp Vienna ngày 17.2.1448 với hoàng đế Friedrich III (1439-93). Sau thỏa hiệp này, công đồng ly khai bị Friedrich trục xuất khỏi Bâle, di chuyển sang thành Lausanne, nơi Felix V lập “Giáo triều“. Nhưng Felix từ chức ngày 7.4.1449. Ít ngày sau, để giữ thể diện, công đồng “bầu' đức hồng y Tommaso Parentucelli “hiệu Nicolas V” làm Giáo hoàng, và sau đó giải tán. Từ đấy, chấm dứt cuộc khủng hoảng nội bộ của Giáo hội kéo dài một thế kỷ rưỡi.


II

KHOA HỌC THÁNH VÀ VĂN NGHỆ PHỤC HƯNG


1. Thần học, triết học, thần bí học và giảng thuyết

Ngành đại học vẫn tích cực hoạt động trong hai thế kỷ XIV và XV thời ly giáo Tây phương, đại học Paris đã đóng vai trò quan trọng và có tiếng nói quyết định trong cả Giáo hội. Tuy nhiên, nó bắt đầu mất tính quốc tế, và từ năm 1461 nhà Vua cho đặt dưới sự kiểm soát của Quốc hội. Nhiều đại học khác được thiết lập cạnh tranh với đại học Paris, như Avignon (1303), Coimbré (1308), Praga (1348), Cracovia (1364), Vienna (1365), Cologne (1388), Budapest (1389), Louvain (1425), Bordeaux (1441), v.v... Các viện đại học này tuy mang tính quốc gia, nhưng vẫn là của Giáo hội. Cho tới cuối thế kỷ XV, có 70 viện đại học thì 63 viện do Sắc lệnh thiết lập của Tòa thánh.[17]

Từ cuối thế kỷ XIII, Kinh viện học phái chia làm nhiều trường phái mâu thuẫn nhau về phương pháp cũng như đường hướng. Cuối thời hoàng kim của học phái này, John Duns Scotus (1266-1308) dòng Phan sinh người Tô Cách Lan, giáo sư đại học Paris, Oxford, Cambridge và Bolonia, đứng ra sáng lập một trường phái mang tên Scotus đối lập với trường phái Tôma, Scotus có trí óc rất sâu sắc, thấu triệt và đối đáp được những vấn đề hắc búa nhất; người ta gọi ông là Doctor subtilis (Tiến sĩ tinh anh). Sự nghiệp của ông về thần học rất lớn. Ông đi ngược với thánh Tôma Aquinô bằng đặt ý chí lên trên lý trí và chủ trương hạn chế lý trí trong thần học. Thần học đối với ông là một khoa học thực dụng, mà đức ái là mục tiêu. Đạo lý của Scotus trở thành đạo lý của dòng Phansinh, cũng như đạo lý thánh Tôma trong dòng Đaminh.

Cùng xuất hiện với trường phái Scotus, có trường phái Âutinh, nó trở nên thời danh trong thế kỷ XVI, đặc biệt trong Công đồng Trento. Vị sáng lập là Doctor fundatissimus (Tiến sĩ rất vững) Egidio Colonna thành Roma (+ 1316) dòng Âutinh, học trò thành Tôma, sau làm giáo sư đại học Paris, lên chức bề trên tổng quyền dòng, rồi tổng giám mục thành Bourges. Học thuyết của Egidio bắt nguồn từ thánh Tôma, nhưng trong nhiều điểm có khuynh hướng Âutinh-Platon, đã được chính thức chấp nhận làm đạo lý của dòng Âutinh từ năm 1287.

Một trường phái nữa được khai sinh sau đó ít lâu, nghịch với cả ba trường phái nói trên, đó là phái Occam của nhà thần học William Occam (1285-1349), dòng Phansinh người Anh. Cái tài lý luận của ông đã thu hút được nhiều môn đệ, họ gọi ông là Doctor invincibilis (Tiến sĩ vô địch). Năm 1324, Occam bị khiển trách tại Tòa thánh Avignon về nhiều điểm sai lạc. Sau 4 năm bị giam giữ, tháng 5 năm 1328 ông vượt ngục tìm đến Hoàng đế La Đức Ludwig xứ Bavaria (1328-46) tại Pisa, nhưng ông nhận được vạ tuyệt thông và truất chức. Từ năm 1329 được hoàng đế che chở, ông hoạt động ở Munich chống Giáo hoàng và chủ trương Giáo hội quốc gia tự trị.

Nói về đạo lý, Occam là người canh tân và truyền bá thuyết duy danh (nominalisme). Thuyết này đã có từ cuối thế kỷ XI với triết gia Roscelin thành Compiège (+ 1121), đã bị Giáo hội lên án năm 1092 trong công đồng Soissons. Đó là thuyết chủ trương “ý niệm tổng xưng” (universaux) chỉ là cái gì trừu tượng, danh từ suông. Nó được phổ biến tại Anh quốc trong hàng ngũ giáo sư ở Oxford từ thế kỷ XIII, hợp với sự ham thích khoa học thực nghiệm của người Anglo-Saxon. Thuyết duy danh vì thế chỉ nhìn nhận là xác thực khi có sự hiển nhiên (évidence), và chỉ lý luận đúng khi có sự đồng nhất tính (identité). Theo thuyết này, người ta không thể lý luận một cách trừu tượng để tìm ra nguyên nhân, nguyên nhân chỉ có thể biết rõ bởi thực nghiệm. Theo họ, đó là “con đường mới” (via moderna).[18]

Học thuyết nguy hiểm này, suốt 150 năm luôn bị lên án, tuy nhiên cũng đã lôi cuốn được nhiều nhân vật nổi tiếng như Pierre d'Ailly, Jean Gerson, và sau này có Martin Luther. Đại diện cho “con đường mới” ở cuối thế kỷ XV là nhà thần học Gabriel Biel. Trong cuốn Sưu tầm về bốn quyển Sententiae (Collectorium super quattuor libros Sententiarum), Biel đã trình bày học thuyết của Occam một cách khéo léo và sáng sủa, nhưng cũng cố gắng gột tẩy hết những l­ý tưởng quá khích và nguy hiểm. Dầu sao đi nữa, trường phái Occam không thể đánh đổ nổi thuyết duy thực ôn hòa (réalisme modéré) của các trường phái Tôma, Scotus, Âutinh.

Học phái Tôma, sau một thời xuống dốc, nay được phục hồi vào cuối thế kỷ XV sang đầu XVI, với những nhà thần học như Giovanni Capreolo, thánh Antoninô, Giovanni Lapide, Pierre Crockart, nhưng nổi tiếng hơn cả có lẽ là Tommasodi Vio thành Gaeta tức hồng y Cajetano (1469-1534), mà người ta gọi là “Tôma thứ hai”. Ngài đã để lại bộ sách vĩ đại Chú giải bộ Tổng yếu thần học của thánh Tôma.

Người ta cũng không thể quên được hai nhà thông thái thế kỷ XV: một Tây Ban Nha và một Đức. Cả hai thuộc Kinh viện học phái, nhưng theo con đường tự do và mới mẻ hơn, đó là Raymundo Sabonde (+ 1440) và Nicolas Cusa (+ 1464). Sabonde là một triết gia, y sĩ, tác giả cuốn Thế giới Thiên nhiên hay Thần học Thiên nhiên, trong đó ông muốn dùng sự hiểu biết về thế giới thiên nhiên để giảng dạy giáo lý Công giáo. Còn hồng y Nicolas Cusa là một nhà nhân bản học. Ngài đã đi trước cả Copemic và Galilei bênh vực thuyết mặt trời xoay vần tại chỗ, làm trung tâm cho thái dương hệ.

Khoa thần học từ thế kỷ XIII đã trổ sinh thêm khoa thần bí, cũng gọi là tu đức học, được coi như một bông hoa xinh đẹp của Kitô giáo thời Trung cổ. Thực ra khoa thần bí đã có từ đầu thời Trung cổ trong các đan viện, chú giải ý nghĩa huyền bí trong Thánh Kinh, hoặc đạo lý thánh Âutinh và thánh Gregori Cả, hay tác phẩm của Pseudo-Dionisius-Areopagit. Thế kỷ XII, khi các học viện ở Paris bắt đầu hoạt động, thì trong các tu viện thánh Benađô (1090- 1153) và đan sĩ Guillaume de St-Thierry cũng đã để lại một thuyết tu đức dạy con người phải kết hiệp với Thiên Chúa bằng đức ái, để trở thành những “người bạn của Thiên Chúa” (amici Dei) theo danh từ của thánh Gioan (Ga XV, 14).[19]

Thế kỷ XIV và XV, khoa thần bí được phổ biến trong các nước Ý, Anh, và nhất là ở Đức trong những tu viện hai bên bờ sông Rhin, từ Constancia đến Cologne. Đặc biệt giới phụ nữ góp phần quan trọng trong ngành này, như ba thánh nữ Catarina nước Ý: Catarina thành Sienna (1347-80), Catarina thành Bolonia (+ 1463) và Catarina thành Genova (1447-1510). ở Anh có thánh nữ Giuliana thành Norwich (+ 1413). Ở Đức, trong các nữ tu viện Đaminh tại Toss, Medingen, Colmar, có rất nhiều nữ tu đạo đức, thánh thiện, được ơn xuất thần, hơn cả những nữ tu dòng Biển đức dưới thời thánh nữ Hildegarda (1098-1179) và Mechtilda thành Magdeburg (+ 1285). Nhưng đại diện cho các nhà thần bí học của nước này là những nhà thần học Thierry thành Freiberg, Johannes Eckhart, Johannes Tauler và chân phước Henry Suso, tác giả cuốn Chiếc đồng hồ của đức khôn ngoan (Horologium Sapientiae), tất cả đều thuộc dòng Đaminh. Kinh sĩ hội Thánh-Âutinh có nhà trước tác Tôma a Kempis (1378-1471), mà người ta tin là tác giả cuốn Gương Chúa Giêsu (De imitatione Christi) xuất hiện khoảng năm 1420. Nước Bỉ có chân phước Jean Ruysbroeck (1293-1381), bề trên kinh sĩ hội Thánh-Âutinh, cũng là một nhà thần bí học nổi tiếng. Ở Hà Lan, có Gérard Groote (+ 1384), người sáng lập tu hội các Anh Em Sống chung (Frères de Vie commune). Tu hội này đã sản xuất nhiều nhà tu đức và thần bí, như Tôma a Kempis, John Mombaer.

Việc giảng thuyết mà Công đồng Latran IV (1215) kêu gọi phải có, để cung cấp cho giáo dân những lương thực thiêng liêng cần thiết, mà sau đó Giáo hội đã ủy thác cho các dòng tông đồ, vẫn tiếp tục hoạt động mạnh trong hai thế kỷ XIV và XV. Các tu viện dòng Đaminh, Phansinh, Cát minh, Âutinh tung ra từng loạt nhà giảng thuyết và truyền giáo. Hàng giáo sĩ triều cũng đảm nhận việc giảng Phúc âm trong các Thánh Lễ chúa nhật và lễ trọng tại giáo xứ mình coi sóc.

Có nhiều nhà giảng thuyết lừng danh thu hút dân chúng đông vô kể, gây rất nhiều ảnh hưởng tới đời sống xã hội của cả một thành phố hay một miền, như thánh Benađinô thành Sienna (1380-1444) dòng Phansinh, thánh Gioan Capistran (1386-1456) cũng dòng Phansinh, Gérard Groote, Jean Gerson, Gabriel Biel, v.v... Nếu nói đến một nhà đại hùng biện, đại tông đồ làm sôi động cả Âu châu, thì phải nói đến ông trạng phép lạ Vinh sơn Ferrer (1358-1419) dòng Đaminh. Khi muốn nói đến một nhà giảng thuyết chuyên quật phá những đồi phong bại tục của thời đại, không kiêng nể một giới nào, kể cả Giáo triều, thì phải kể tên cha Girolamo Savonarola (1452- 1498), cũng dòng Đaminh.

Ngoài ra, sách vở tức lời nói được ghi chép và ấn loát, cũng đóng một vai trò mỗi ngày thêm quan trọng trong việc giáo dục dân Chúa, kể từ khi Gutenberg (1399- 1468) phát minh ra máy in năm 1440. Trước hết là Thánh Kinh, vì ngày xưa hầu như không bao giờ tới tay người giáo dân. Từ khi sáng chế ra máy in cho đến năm 1500, bản Thánh Kinh Vulgata đã được in tới 100 lần, và cho đến năm 1518 bản dịch Thánh Kinh tiếng Đức được xuất bản 18 lần. Cũng nhờ có máy in mà các loại sách Kinh Bổn được phổ biến khắp nơi, khiến việc giảng dạy giáo lý trở nên dễ dàng và kết quả hơn.


2. Đời sống đạo đức và tu trì
[20]

Cũng như những thế kỷ trước, việc rước lễ vẫn không được siêng năng. Sự khuyến khích siêng năng rước lễ của các nhà tu đức chỉ ảnh hưởng tới các tu sĩ và một số tâm hồn. Việc dâng Thánh Lễ cũng không hơn gì. Công đồng miền Ravenna (1314) phải lên tiếng buộc hàng giáo sĩ dâng Thánh Lễ mỗi năm ít là một lần, công đồng Tarragona (1317) buộc ba lần, công đồng Toledo (1324) buộc bốn lần. Từ thế kỷ XIII và nhất là trong mấy thế kỷ kế tiếp, người ta được nghe nói đến những phép lạ Thánh Thể (Bánh Thánh chảy máu, Bánh Thánh bị ném vào lửa không cháy) như ở Bolsena (Ý), Andechs, Deggendorf và Wilsnack (Đức).

Vấn đề ân xá chiếm phần lớn trong đời sống tôn giáo cuối thời Trung cổ này. Có ân xá dành cho những công cuộc xây cất hoặc trùng tu thánh đường. Ân xá hành hương, ân xá viếng bàn thờ hoặc xương thánh, gia nhập binh Thánh giá (chống Thổ Nhĩ Kỳ, Sarrasen, Huss). Năm Toàn xá lần đầu tiên được đức Bonifaciô VIII công bố năm 1300, cả trăm ngàn người tuôn đến Roma kính viếng các thánh đường. Thời gian ấn định 100 năm một lần được đức Clementê VI (1343) giảm xuống 50, đức Urban VI (1389) ấn định lại 33 năm, và đức Phaolô II (1470) giảm xuống nữa chỉ còn 25 năm như ngày nay. Thế kỷ XV đã có những điều kiện dành cho nhiều người không thể tới Roma,cũng được hưởng ơn Toàn xá.

Nhưng rồi việc ban ân xá dần dần đi đến “lạm phát” nhất là dưới thời đức Leô X (1513-21) : ân xá 1.000, 10.000, 15.000 và 100 000 năm ! Người ta còn phàn nàn về thái độ quá khích của một số nhà giảng thuyết ân xá, cũng như những người đi quyên tiền vào việc trùng tu thánh đường. Thế kỷ XIII, nhiều nhà thần học đã dạy có thể chỉ ân xá cho những người quá cố. Nhưng việc ban ân xá để nhường cho các “đẳng”, chỉ bắt đầu với đức Calixtô III (1456) và đức Sixtô IV (1476).

Từ năm 1260-61, xuất hiện ở Ý những nhóm người sám hối đi khắp phố phường, tự đánh phạt mình (flagellant) để van nài ơn thương xót của Chúa, nhất là trong thời chiến tranh, ôn dịch. Những nhóm người sám hối như thể có mặt hầu khắp Trung Âu. Nhưng vì đến sau có pha lẫn nhiều hành động quá khích, cuồng nhiệt, dị đoan nữa, nên đức Thánh Cha Clementê VI phải ban lệnh bãi bỏ (tháng 10 năm 1349). Tuy nhiên, thời Ly giáo Tây phương đầu thế kỷ XV, thánh Vinh sơn Ferrer hướng dẫn từng đoàn người sám hối như trên đi khắp các nước Tây Ban Nha, Pháp, Bắc Ý. Công đồng Constancia (1414-18) một lần nữa lên tiếng ngăn cấm. Thế kỷ XVI-XVII, người ta lại thấy những đoàn sám hối khác xuất hiện.

Giáo hội thời này lập thêm nhiều Lễ trọng như lễ Đức Mẹ đi viếng, lễ Chúa Ba ngôi. Trong khi đó lễ Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội được phổ biến rộng rãi, nhưng mãi đến thế kỷ XVII-XVIII lễ này mới được mừng khắp Giáo hội. Trong các việc đạo đức, người ta thấy có thêm việc đọc kinh Sai Thiên thần (Angelus) khi nghe chuông sáng, trưa và chiều. Viếng Đàng Thánh giá bắt nguồn từ việc suy gẫm cuộc tử nạn Chúa, do quân binh Thánh giá và tu sĩ dòng hành khất giảng dạy và làm gương sáng. Đời sống đạo đức của giáo dân đặc biệt được tổ chức thành hội đoàn, chuyên tôn sùng một Mầu nhiệm hoặc một đấng thánh, cầu cho các linh hồn ở luyện ngục, hoặc coi sóc dọn dẹp thánh đường.

Đời sống tu trì thời này cũng như tình hình chung của Giáo hội gặp nhiều khủng hoảng. Các dòng tu cũ, trừ dòng Chartreux và một phần dòng Xitô, đã đi xa mục đích và sứ mạng của mình kỷ luật lỏng lẻo, tinh thần sa sút. Nhiều tu viện nổi tiếng thuộc dòng Biển đức, như Saint-Gall, Fulda, Reichnau, v.v... cũng một tình trạng. Cả những dòng tu hành khất mới được thành lập cũng không còn trình độ như ban đầu.

Riêng dòng Phansinh, một nhóm tu sĩ quá khích ở Ý tách ra khỏi dòng, lấy tên là Fraticellos. Vụ này phát sinh từ việc tổng hội dòng tại Perusa (1322) long trọng tuyên bố như đạo lý Công giáo rằng: “Chúa Kitô và các tông đồ xưa không có một của gì cho cá nhân cũng như cho đoàn thể, nên dòng Anh Em Hèn mọn phải theo đó để tiến tới đức trọn lành”. Nhưng đức Thánh Cha Gioan XXII phủ nhận lời tuyên bố đó, và coi như “lạc thuyết” trong Tông chiếu Cum inter nonnullos tháng 11 năm 1323, khiến cả dòng xôn xao. Bề trên tổng quyền dòng Michel Cesena, cùng nhiều tu sĩ khác như Bonagratia Pergamo, William Occam, đứng ra lập nhóm Fraticellos chống Giáo hoàng và lên án ngài là “rối đạo”. Sau đó, một tu sĩ thuộc nhóm được bầu lên làm Giáo hoàng, tức Nicolas V, lập Giáo triều tại Roma năm 1328.[21]

Cuộc đụng độ này dần dần phát sinh ra hai khuynh hướng “ngặt phép” và “dung hòa”. Nhóm Observantes (ngặt phép) ở Pháp và Tây Ban Nha được Công đồng Constancia (1415) cho đứng tự lập và quyền chọn một vị tổng đại diện riêng. Sự phân tách chính thức bắt đầu từ năm 1515 do Tông chiếu Ite (et) vos in vineam của đức Leô X. Từ đó thành hai dòng biệt lập: Observantes chủ trương ngặt phép, và Conventuales chủ trương dung hòa.

Dòng Cát minh cũng có hai khuynh hướng “ngặt phép” và “dung hòa”. Từ năm 1431, dòng chia ra làm hai ngành: Observantes Conventuales. Sau khi mất Đất Thánh, các dòng tu Hiệp sĩ không còn mục đích nữa, nhưng họ vẫn hoạt động ở Tây phương. Năm 1312, do áp lực của vua Philippe le Bel, dòng Hiệp sĩ Đền thờ bị giải tán. Trong khi đó, dòng Hiệp sĩ Thánh-Gioan đặt trụ sở trên đảo Rhodes từ năm 1310, cải tên là dòng Hiệp sĩ Rhodes. Trong hai thế kỷ, dòng này đã có nhiều công trong việc ngăn cản làn sóng Thổ Nhĩ Kỳ. Năm 1522, đảo Rhodes mất về tay Soliman II; trụ sở dòng chuyển sang đảo Malte, vì thế có tên là dòng Hiệp sĩ Malte (1530- 1798).

Trong khi nhiều dòng tu sa sút, phân chia, hoặc không còn, thì có một số dòng tu khác ra đời. Nổi tiếng hơn cả là tu hội Anh Em Sống chung do thày phó tế Gérard Groote sáng lập năm 1383. Đến sau thêm tu hội Chị Em Sống chung. Dòng Biển đức sau khi trổ sinh ra ngành Silvestrian (thế kỷ XIII), nay lại thêm ngành Ovivetan, cũng gọi là “dòng Đức Bà núi Olively”, được thiết lập năm 1313 do cha Bernardo Tolonei thành Sienna (+ 1348) trên núi Olivety, được phổ biến trong nước Ý và đảo Sicila. Thánh Phansinh Phaolô (1416-1507) năm 1460 lập dòng Anh Em Rất Hèn mọn (Frères Minimes), một dòng hành khất theo sát tinh thần thánh Phansinh Khó khăn, rất thịnh vượng vào đầu thế kỷ XVI. Ngoài ra còn có những tu hội Alexian (1348), Giesuate (1360), chuyên việc cứu giúp bệnh nhân và chôn táng kẻ chết, rất cần thiết trong thời hắc tử dịch.


3. Nhân bản chủ nghĩa và Văn nghệ Phục hưng

Thế kỷ XIV, một trào lưu tư tưởng độc đáo hình thành trong Giáo hội Tây phương. Sang thế kỷ XV, nó đi sâu vào một phần lớn giới trí thức và lãnh đạo Âu châu. Chịu ảnh hưởng về giá trị con người, nó có tên là “Nhân bản chủ nghĩa” (Humanisme), khi người ta bàn về nhân sinh, luân lý, văn chương. Cũng gọi nó là “Văn nghệ Phục hưng” (Renaissance), khi bàn đến văn nghệ, bởi vì đây cũng là thời phục hồi văn chương, nghệ thuật cổ điển, nghĩa là trở lại di sản văn nghệ cổ xưa. Thời Văn nghệ Phục hưng được coi như bắt đầu từ thi sĩ Francesco Petrarca (1304-74), nhà đại nhân bản học thứ nhất. Nhân bản chủ nghĩa hoạt động mạnh trước hết ở Ý, mà trung tâm là Florencia.[22]

Cuộc tấn công của Thổ Nhĩ Kỳ vào bán đảo Balkan và sự sụp đổ của đế quốc Byzantin (1453), bắt buộc nhiều nhà thông thái Hy Lạp phải chạy sang Tây phương tị nạn. Nhờ đó, Nhân bản chủ nghĩa dần dần trở thành môi trường hoạt động của hầu hết các nhà trí thức ở Ý. Việc phát minh ra máy in (1440) cũng giúp một cách rất đắc lực vào công việc này. Ở Florencia, nhiều người thuộc hàng quí tộc Medicis, nhất là Cosma Anciano (1389-1464) và cháu ông là Lorenzo Magnifico (1449-92) là những đại ân nhân của nghệ thuật và khoa học. Theo lời yêu cầu của triết gia Hy Lạp Pléthon (+ 1450), Cosma cho thiết lập ở Florencia một Hội học Platon (Académie Platonicieune), được đặt dưới sự diều khiển của Marsilio Ficino (1433-99). Triết học Platon vì thế trở thành triết học của các nhà nhân bản học này, có bá tước trẻ tuổi Pico Mirandola (1463-94) làm đại diện.

Từ thời đức Nicolas V (1447-55), cuộc phục hưng tinh thần và nghệ thuật được các Giáo hoàng Roma cổ võ, nhất là Sixtô IV, Giuliô II và Leô X. Nhiều ông hoàng nước Ý như Visconti và Milan, Gonzaga ở Mantua, Este ở Ferrara, Montefeltro ở Urbino, đến cả các vua nước Aragon và Napoli cũng theo gương đó. Nhân bản chủ nghĩa còn len lỏi cả vào hai đại học Padua và Bolonia. Chính tại đây các đồ đệ của làng văn nghệ đã được người ta kêu là những nhà nhân bản (humaniste), để phân biệt với những nhà nghệ thuật (artiste) thời trước.

Từ nước Ý, trào lưu nhân bản bành trướng sang nước Pháp, Anh, Hà Lan, Đức, v.v... Ở Pháp, đi tiên phong có Jacques Lefèvre d'élaples (1450-1537), ông là giáo sư triết tại học viện Lemoine. Trên 20 năm, Lefèvre cặm cụi nghiên cứu và truyền bá qua máy in những bản dịch và chú giải các tác phẩm của Aristot, theo đường lối của các nhà nhân bản ý và triết gia Emlolao Barbaro thành Venecia. Nhưng vì Lefèvre quan tâm đến việc đem tinh thần Kitô giáo vào triết học Aristot, nên đồng thời ông cũng nghiên cứu và cho phát hành những tác phẩm thần bí học của Pseudo-Dionisius, Richard de St-Victor, Raymundo Lullo, Ruysbroeck, Nicolas Cusa, cùng những tác phẩm của hai nhà nhân bản học Ficino và Pico. Sau khi lên chức giám mục thành Meaux, Lefèvre còn được nhiều người cộng tác, như Joseph Clichtove, Jérome Aléandre, Guillaume Petit dòng Đaminh, Guillaume Budé người sáng lập học viện Pháp quốc (1529).

Bên Anh, đại học Oxford có nhà thần học John Colet (1466-1519) là người thứ nhất đem phương pháp ngôn ngữ học và sử học vào khoa chú giải Thánh Kinh (1496). Đó là phương pháp người Ý đã đi trước trong việc giảng dạy văn chương. Colet coi đó là đường lối canh tân khoa học thánh cũng như chính Giáo hội. Trong các môn đệ của ông, nổi tiếng hơn cả có John Fisher và Tôma More.

Hà Lan có nhà đại nhân bản Didier Erasmus (1496-1536) thành Rotterdam. ông thông thạo văn chương Hy Lạp và Latinh, được người đương thời gọi là “ông hoàng” văn học. Ông chủ trương giải phóng thần học khỏi phương pháp mà ông gọi là “man rợ” của Kinh viện học phái, để đem nó trở về nguồn đức tin, tức Thánh Kinh và giáo phụ. Ông là người thứ nhất đứng ra in bộ Tân Ước theo bản Hy Lạp (Bâle 1516) và rất nhiều tác phẩm giáo phụ.

Ở đế quốc Đức Nhân bản chủ nghĩa cũng hoạt động một cách đáng chú ý trong thế kỷ XV. Thủ tướng Johannes Neumarkt của hoàng đế Karl IV (1347-78) tại Praga, đến sau làm giám mục thành Leilomischl, rồi Olmutz (+ 1380), là bạn thân của Petrarca. Ông có nhiều công trong việc phiên dịch một số tác phẩm của các giáo phụ ra tiếng Đức, Alexander Hegius (+ 1498), giám đốc trường Deventer, một nhà giáo dục gương mẫu, cũng là nhà nhân bản học Kitô giáo nổi tiếng. Nhiều sinh viên Đức nhiễm tư tưởng nhân bản khi theo học tại các đại học Ý. Cuối thế kỷ XV, Nhân bản chủ nghĩa ảnh hưởng mãnh liệt trong các đại học Vienna, Bâle, Freibur­g, Heidelberg, Tubingen, Ingolstadt, Erfurt, Leipzig và trong nhiều thành phố thuộc đế quốc, như Nuremberg, Strasburg, Augsburg, Cologne, Vienna, v.v...

Thời Phục hưng, sau văn học còn phải nói đến nghệ thuật gồm kiến trúc, điêu khắc, và hội họa. Kiến trúc lối Gothic thế kỷ XIII mỗi ngày thêm hoàn hảo, tinh vi, vẫn còn thịnh cho đến giữa thế kỷ XIV. Người ta thấy có thêm lối “Gothic uốn cong như ngọn lửa” (flamboyant), nhưng ở Ý chỉ đứng vững cho đến khoảng năm 1420; ở miền Bắc rặng Alpes nó tồn tại cho đến thế kỷ XVI, và có nơi đến tận thế kỷ XVII, như ở Anh quốc.

Ở Ý, từ ảnh hưởng của những lâu dài cổ kính và lối kiến trúc của Vitruvo (thế kỷ I trước công lịch), đã phát sinh một ngành kiến trúc mới. Nó phỏng theo nghệ thuật cổ Roma, nhưng cũng có đường nét riêng và vẫn giữ được tinh thần của thời Trung cổ. Mở đầu cho thời hoàng kim Quattrocento (1400) là hai nghệ sĩ thành Florencia: Filippi Brunelleschi (1377-1446), tác giả mái bán cầu đại thánh đường Florencia (1436) và Leo Battista Alberti (1404-72). Nhưng Donato Bramante (1444-1514) và Raphael Sanzio (1483-1520), cả hai cùng quê ở Urbino, mới thực sự là những người sáng tác ra ngành kiến trúc của thời Phục hưng nói đây. Đó là tác phẩm kiến trúc nguy nga đồ sộ, đặc biệt chú trọng đến thuật trang trí. Tường, cột đều được trang điểm bằng những cành lá, tràng hoa, trái cây, triều thiên, hình nhân và những bức phù điêu (chạm nổi). Bramante để lại nhiều tác phẩm thuộc ngành này ở Milan (thánh đường Đức Bà Ban ơn) và ở Roma (Tempietto, cung đình Belvédère Vatican). Còn Raphael được đức Giuliô II và đức Leô X đặt đứng dầu công tác xây cất các dinh thự Tòa thánh, và trang trí điện Vatican.

Ngành kiến trúc thế kỷ XIV có khuynh hướng tả chân (réaliste), chuyên tạc hình nhân, tô điểm lăng tẩm, trang trí thánh đường. Những nhà điêu khắc nổi danh, trừ một vài nhân vật như Claus Sluter người Hà Lan, Michel Colomb người Pháp, Tilman Riemenschneider người Đức, còn hầu hết là Ý như Ghiberti, Donatello, Robbia, Verrochio, Leonardo Vinci. Nhưng nổi bật hơn cả là Michel-Ange Buonarroti (1475-1564), sinh quán tại Caprese (Toscana), ông đồng thời là họa sĩ kiến trúc sư và thi sĩ. Tuy đa cảm, Michel-Ange vẫn sống một đời sống đạo đức và trung thành với Giáo hội. Ông có một sự nghiệp nghệ thuật lớn lao từ khi còn trẻ tuổi, như tượng Đức Mẹ Sầu bi (Pietà). Năm 1505, ông khởi công xây mộ đức Thánh Cha Giuliô II, đắp tượng Đavid, Môisen. Từ năm 1521 đến 1534, ông thực hiện tại Florencia những ngôi mộ vĩ đại của nhà Médicis.

Hội họa ở Ý tiến bộ lạ lùng từ thế kỷ XIV. Lối vẽ lý tưởng hóa (idéalisation) tuy còn, nhưng dần dần đi vào lối tả chân (réaliste), nghĩa là diễn tả làm sao cho đúng với thiên nhiên, đúng với cảm nghĩ của con người. Giotto Bon-done (1266-1337) là một trong những người mở lối cho ngành hội họa mới mẻ này. Thế kỷ XV trường Mỹ thuật Florencia trở nên rất thời danh với Tommaso Masaccio (1401-29), Fra ­Filippi Lippi (1406- 69) dòng Cát minh, Sandro Botticelli (1444-1510), v.v... Dòng Đaminh có Fra Angelico (1387-1455), họa sĩ có biệt tài diễn tả sự thanh khiết siêu nhiên và sự hoan lạc của các thánh trên Thiên đàng. Xứ Flandria có Van Eyck (1390-1441) tác giả bức họa Con chiên thần bí. Hans Memling (1433-94) tác giả họa phẩm Ngày Chung thẩm.

Cuối thế kỷ XV sang thế kỷ XVI, ngành hội họa tiến tới tột đỉnh nghệ thuật. Leonardo Vinci (1452-1519), Raphael (1483-1520) và Michel-Allge là những họa sĩ nổi tiếng nhất của thời Phục hưng này, cả ba đều là người Ý. Leonardo V có tài quan sát và sáng tác trong nghệ thuật. Ông còn là nhà giải phẫu, điêu khắc, kiến trúc, kỹ sư, văn hào, nhạc sĩ. Ông để lại nhiều bức họa trứ danh như Gioconda, Bữa tiệc ly. Raphael là một họa sĩ hoàn hảo, trước tác những họa phẩm linh động, cân đối, dúng sự thật, màu sắc tuyệt diệu. Tuy ông mất khi mới 37 tuổi, ông cũng để lại nhiều tác phẩm quí báu như Thánh gia, Thiên thần Micae, Thánh Georgiô. Raphael đồng thời là nhà kiến trúc và khảo cổ. Michel-Ange tuy là nhà điêu khắc nhưng cũng rất nổi danh trong ngành hội họa. Tưởng không có họa sĩ nào sánh kịp với ông về sáng kiến và táo bạo. Ngày 31.10.1541, Michel-Ange hoàn thành bức họa Ngày Chung thẩm trong nguyện đường Sixtino, danh phẩm này đã làm cho Roma và thế giới thán phục.

Ngoài nước Ý, Van Eych, Van Weyden (1400-64), Van Goes (1397-1482), Hans Memling đều là những họa sĩ tên tuổi của xứ Flandria, họ đã sáng tác và kiện toàn lối vẽ sơn dầu. Từ xứ Flandria, ngành hội họa này tràn sang nước Pháp, với Simon Marmion (1425- 89), Jean Fouquet (1420-80), Jean Bourdichon (1457-1521). Ở Đức có Albert Dur­er và nhà hội họa Mathis Grunewald. Durer (1471-1528) nổi tiếng về ngành vẽ sơn dầu và thủy mạc; Grunewald (+1528) diễn tả khoa thần học thần bí thời Trung cổ qua 9 bức họa : họa phẩm giá trị nổi nhất là ảnh Chúa chịu đóng đinh. Dung nhan oai nghi với vòng gai to quấn quanh đầu, hai tay đầy thương tích, thân xác bị gia hình tan nát. Nhìn vào, người ta có cảm tưởng như nghe một lời tố cáo khủng khiếp, buộc tội nhân loại thời ấy.


III

GIÁO HỘI BÁN THẾ KỶ XV


1. Các Giáo hoàng thời Văn nghệ Phục hưng:
từ đức Nicolas V đến đức Phaolô II (1447-71)

Đức Nicolas V (1447-55) là nhà nhân bản học thứ nhất lên ngôi Giáo hoàng. Ngài mở đầu một thời đại chính trị văn hóa mới của Giáo triều, trong đó ngôi Giáo hoàng đỡ đầu cho phong trào Phục hưng văn nghệ kéo dài đến thời đức Leô X (1513-21).[23]

Sau việc chấm dứt công đồng “ly khai” thành Bâle (1449), đức Nicolas V hầu như chỉ quan tâm đến việc sửa sang thành Roma, trùng tu các thánh đường và xây cất thêm. Ngài ham say sưu tầm các cảo bản, và trở thành người sáng lập thư viện Vatican. Năm 1450 , đức Thánh Cha mở năm Toàn xá thu hút giáo dân đông vô kể đến Roma, đem theo rất nhiều của dâng cúng. Ngày 19.3.1452, ngài đặt vương miện cho hoàng đế Friedrich III (1440-93), đó là vị hoàng đế cuối cùng được Roma phong vương.

Sự suy sụp của Giáo hội Đông phương là một đau thương cho đời Giáo hoàng của đức Nicolas V. Chỉ một tháng sau khi Sắc lệnh Hiệp nhất hai Giáo hội Hy Lạp và La tinh được ký kết (6.7.1439), phần đông tín đồ Hy Lạp cùng với hàng giáo sĩ và tu sĩ đứng lên chống đối và đả kích chính trị của hoàng đế Joannes VIII Paleologus. Phái đoàn từ Công đồng Florencia trở về Constantinopoli bị họ la lối chế nhạo: “Quân ăn bánh không men, Quân phản đạo, Quân Roma, bọn tà giáo”. Thế là không một ai dám tuyên bố Sắc lệnh. Ở Nga, việc hiệp nhất cũng thất bại trước sự ngăn cản của ông hoàng Basilius II. Đức giáo chủ Isidorus thành Kiev, sau khi được thăng hồng y, trở về cổ võ sự hiệp nhất đã bị bắt tống giam, nhưng ngài trốn sang Roma. Các giáo chủ thành Alexandria, Antiokia, Gierusalem gởi đại diện sang ký Sắc lệnh Hiệp nhất cũng phải rút lui từ năm 1443. Hoàng đế Joannes VIII dần dần tỏ ra lạnh nhạt với Roma, khi thấy sự liên kết Tây phương cũng không thể cứu ông khỏi nạn Thổ Nhĩ Kỳ. Đạo quân Ba Lan và Hung Gia Lợi đã bị đánh bại ở Varna (1444) trên bờ Hắc Hải và ở Amself­eld (1448) trong xứ Serbia.

Tân hoàng đế Constantinus XI Paleologus (1448-53), tháng 12 năm 1452, lập lại bang giao với Giáo hội Roma qua đức hồng y Sứ thần Tòa thánh Isidorus, và truyền công bố Sắc lệnh Hiệp nhất trong đại thánh đường Đấng Khôn ngoan. Nhưng ngay hôm sau, hàng giáo sĩ được dân chúng hậu thuẫn, đã tuyên bố: “Thà thấy khăn bịt đầu của quân Thổ Nhĩ Kỳ thống trị thành Constantinopoli này, chẳng thà thấy mũ giáo chủ của bọn Roma”. Trong khi đó, quân Thổ Nhĩ Kỳ đã bổ vây kinh thành. Ngày 29.5.1453, một loạt súng đại bác mở đường cho Mahomet II (1451-81) tiến vào Constantinopoli, chấm dứt đế quốc Đông phương. Trung cổ thời đại cũng hết từ đấy.[24] Đế quốc Byzantin sụp đổ, quân Thổ Nhĩ Kỳ tràn vào bán đảo Balkan, đe dọa nhiều nước Kitô giáo khác. Đức Nicolas lên tiếng kêu gọi Tây phương tổ chức binh Thánh giá. Nhưng thất bại, vì lúc này Âu châu đâu có còn là Âu châu thời binh Thánh giá Gierusalem nữa.

Vấn đề Thổ Nhĩ Kỳ vẫn là mối lo âu của các vị Giáo hoàng kế tiếp. Nó làm cho việc canh tân Giáo hội phải đứng xuống hàng nhì đức hồng y Alonso Borgia người Tây Ban Nha, 77 tuổi, lên ngôi Giáo hoàng, hiệu Calixtô III (1455-58), nhắc lại việc mộ binh Thánh giá. Ngài truyền cho cả Giáo hội ăn chay, cầu nguyện cho hòa bình, sai sứ thần đi giảng thuyết tại các nước, xuất tiền võ trang cho một đoàn tàu chiến đánh Thổ Nhĩ Kỳ. Nhưng Tây phương vẫn tỏ ra lạnh nhạt, ích kỷ. Hai nước Đức và Pháp còn đang bất mãn về chế độ thuế khóa của Tòa thánh. Những nước chuyên ngành hàng hải, như Venecia, chỉ nghĩ đến vấn đề thương mại với Đông phương. . Chỉ có nước Hung Gia Lọi hưởng ứng, vì đang bị đe dọa trực tiếp. Tướng Hunyadi được thánh Gioan Capistran (1386-1456) cổ võ tinh thần, chống Thổ quân rất can đảm, đánh tan quân xâm lăng tại trận Belgrade (22.7.1456). Nhưng sự thành công này không được khai thác vì Hu­nyadi và Capistran cùng mất năm 1456.

Đức Calixtô không phải là người ưa thích nhân bản chủ nghĩa và văn nghệ. Phục hưng. Ngài bị mang tiếng thiên tư bà con, khi đặt ba người cháu còn ít tuổi lên chức hồng y, trong đó có Rodrigo Borgia vốn tiếng ngang tàng, sau này được bầu làm Giáo hoàng, tức Alexanđrô VI. Thái độ của Calixtô III làm cho người Roma bực bội không ít.

Lên kế vị Calixtô là một nhân vật rất xứng đáng, đức Piô II (1458-64). Ngài cũng là nhà nhân bản học, giảng thuyết và văn hào. Chương trình của triều đại Piô II là thống nhất Âu châu và bảo vệ Kitô giáo chống Thổ Nhĩ Kỳ. Nhưng Đại Hội nghị các cường quốc Âu châu mà đức Thánh Cha đã triệu tập tại Mantua (1459-60), không được mấy vua chúa đến tham dự. Vua nước Hung Gia Lợi, Mathias Corvin (1458-90), cùng với các con của Hunyadi vẫn còn đẩy lui được quân xâm lăng. Nhưng ở Albania, Georgio Castriota (Iskender Bey), người đã đạt được nhiều chiến thắng oanh liệt từ năm 1444, nay phải bó tay chịu để Thổ quân tiến vào.

Trước sự lãnh đạm, ích kỷ, chia rẽ của Tây phương, đức Piô II đích thân dẫn đầu một cuộc tiến công bằng đường thủy. Nhưng ngài kiệt sức và chết trước khi tới Ancona ngày 14.8.1464. Ngài là vị Giáo hoàng duy nhất tự tay biên chép lịch sử triều đại Giáo hoàng của mình: Commentarii rerum memorabilium. Ngài mất đi đem theo cả ý định và chương trình cải cách Giáo hội. Tuy nhiên đời ngài cũng có một thành công, là năm 1461 đã thuyết phục được vua Louis XI (1461-83) nước Pháp bãi bỏ Pragmatique Sanction de Bourges (7.7.1438). Để biết ơn nhà Vua: đức Piô II trao tặng cho Louis XI danh hiệu Rex Christianissim (Vua rất Kitô hữu).

Đức hồng y Barbo thành Venecia, trước khi được bầu lên ngôi Giáo hoàng, tức Phaolô II (1464-71), đã phải thề hứa với hội đồng bầu cử nhiều điều, trong đó có việc tiếp tục đánh Thổ Nhĩ Kỳ, hạn chế tệ đoan thiên tư con cháu, triệu tập đại Công đồng trong vòng 3 năm. Nhưng sau khi đã bầu rồi, đức Phaolô II tuyên bố những thề hứa đó không buộc phải giữ, bởi vì trái với luật lệ và ích chung Giáo hội, khiến Hồng-y-đoàn bất mãn. Đức Phaolô cũng chủ trương chống ngoại xâm, nhưng không làm được gì hơn người tiền nhiệm, trái lại Thổ quân chiếm thêm đất. Ngài ưa thích trang trí cung điện và có thiện cảm với Văn nghệ Phục hưng. Nhưng việc ngài giải tán hội đồng ký giả gồm 70 người làm việc tại Giáo triều, trong đó có nhiều nhà nhân bản học, đã gây phẫn uất cho cả đoàn thể nhân bản. Platina, một trong nhóm ký giả bị bãi chức đã trả thù Giáo hoàng bằng việc làm bôi nhọ đời sống của ngài, trong cuốn Cuộc đời các Giáo hoàng Roma.


2. Các Giáo hoàng thời Văn nghệ Phục hưng:
từ đức Sixtô IV đến đức Leô X (1471-1521)
[25]

Ngôi Giáo hoàng thời này, về phương diện tôn giáo vô đạo đức được coi là xuống thấp nhất kể từ thế kỷ X và XI. Triều Giáo hoàng tuy được tiếng là những ân nhân của thời Văn nghệ Phục hưng, nhưng các ngài lại bị lịch sử chê trách vì bỏ quên nhiệm vụ làm Cha chung Giáo hội.

Sau Phaolô II là đức Sixtô IV (1471-84), nguyên bề trên tổng quyền dòng Phansinh. Đức tân Giáo hoàng là một nhà thần học nhưng cũng rất ham nghệ thuật và khoa học đời. Ngài làm giầu cho thư viện Vatican và mở cửa cho công chúng vào, chỉnh trang thành phố Roma, xây cất nguyện đường mang tên ngài. Ngài cũng hô hào binh Thánh giá đánh Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng Tây phương làm ngơ. May mắn hồi đó Mahomet II mất (1481), một cuộc tranh giành ngôi báu làm suy giảm lực lượng Thổ Nhĩ Kỳ, Tây phương được tạm yên. Triều đại của Sixtô IV bị mang tiếng bởi tệ đoan thiên tư con cháu. Ngài đặt lên chức hồng y hai người cháu: Giuliano Rovere (tức Giuliô II sau này) và Pietro Riario là những người sống xa hoa thế tục. Tệ lạm đó gây ra nhiều bất mãn, ghen tị, oán thù đi đến đổ máu. Khi ngài nằm xuống, một tình trạng hỗn loạn thật sự đã diễn ra ở Roma.

Đức Sixtô băng hà, Hồng-y-đoàn bầu đức hồng y Battista Cibo, thuộc hàng quí tộc thành Genova, lên ngôi Giáo hoàng, tức Innocentê VIII (1482-92). Ngài không đủ uy tín để kiềm chế các lạm dụng tại Giáo triều cũng như trong Giáo hội, vì chính ngài đã không tránh được sự thiên tư con cháu.

Gương xấu nơi giáo triều lên đến tột độ khi đức hồng y Rodrigo Borgia, 62 tuổi, lên ngôi Giáo hoàng, đó là đức Alexanđrô VI (1492-1503). Ngài là người có lắm tài, biết cai trị, dáng bộ đạo mạo. Nhưng đời sống tư thật đáng xấu hổ, quá khứ vướng nhiều vết nhơ. Ngài được đặt lên chức hồng y năm 1456 khi mới 26 tuổi, và đời sống vẫn không thay đổi sau khi thụ phong linh mục năm 1468. Đến khi lên địa vị tối cao trong Giáo hội, vẫn còn là người lắm dục vọng cho tới giờ chết.

Đức Alexanđrô có bốn người con trước khi lên ngôi Giáo hoàng. Cesarano là con cả, đời sống phóng đãng, lắm tham vọng, nhưng có nhiều tài ngoại giao, được đặt làm hồng y hồi 17 tuổi và đảm nhận nhiều trọng trách ngoại giao. Cesarano kết duyên với một công chúa nước Pháp và cai trị xứ Romania (1501). Con thứ hai (sinh năm 1476) là Giovanni được đặt làm quận công xứ Benevento thuộc nước Tòa thánh, nhưng được mấy ngày thì bị ám sát chết, hình như bởi Cesarano anh ông. Người con thứ ba là Lucrecia (sinh năm 1480), một cô gái rất xinh đẹp. Nàng ban đầu kết duyên với Giovanni Sforza, nhưng hôn nhân được tuyên bố không thành vì Sforza “bất lực”. Lucrecia lấy người chồng thứ hai là Alfonso con vua nước Napoli, nhưng ông này bị giết, hình như cũng bởi Cesarano anh vợ ông. Lucrecia kết duyên với người thứ ba là Alfonso Este, ông hoàng xứ Ferrara, từ đó nàng sống xứng đáng người vợ có tinh thần công giáo dòng Phansinh tại thế. Người con thứ tư tên là Geoffroy (sinh năm 1481) lấy công chúa nước Napoli vâ được cai trị công quốc Squillacia.[26]

Nguyên việc lo lắng lập gia đình, và thăng quan tiến chức cho bốn người con này cũng đủ làm hao tổn biết bao thời giờ, sức khỏe và tiền bạc cho một vị Giáo hoàng. Đó là tất cả những gì đáng chê trách nhất của triều đại Alexanđrô VI. Nhiều nhà giảng thuyết có tâm huyết với Giáo hoàng lên tiếng than trách rồi đi đến chỉ trích. Trong số này nổi tiếng hơn hết có cha Girolamo Savonarola, bề trên tu viện Đaminh ở Florencia.

Cha Savonarola được gọi đến Roma và bị cấm giảng. Sau một hồi suy nghĩ. Savonarola nghe theo tiếng lương tâm bảo cứ phải giảng, do sứ mạng đặc biệt đã được Chúa trao phó. Cha bị vạ tuyệt thông do Đoản thư ngày 13.5.1497. Nhưng Savonarola tuyên bố bản án bất công và vô hiệu lực. Từ tháng 2 năm 1498, cha công khai tố cáo Alexanđrô về hai tội “mại thánh và rối đạo”, đồng thời kêu gọi truất phế bằng một đại Công đồng, đồng thời muốn có một thể chế thần quyền dân chủ. Cha Savonarola bị đưa ra tòa Truy tà, gồm toàn thành phần đối lập. Ngày 23.5. 1498, cha bị cách chức và lên hỏa đài về tội “rối đạo, bè đảng và phỉ báng Tòa thánh”. Cha Savonarola đạo đức, trong sạch, và là người trung thành với Hội thánh Công giáo. Người ta không thể kết tội ngài là tiền hô của Luther được. Nhân đức của cha được nhiều người ca tụng quí mến, trong số có Michel-Ange và thánh Philippê Neri. Lẽ ra việc chống đối đời sống của Alexanđrô VI phải được xử một cách đại lượng hơn. Tuy nhiên, sự sốt sắng và lòng đạo đức của Savonarola đã không tránh được những thái độ và lời lẽ quá khích.[27]

Dầu sao đi nữa, đừng tưởng rằng triều đại Alexanđrô không có những thành tích vẻ vang. Khi còn là hồng y, ngài đã đạt được nhiều kết quả trong sứ mạng ngoại giao. Suốt thời làm Giáo hoàng, ngài khổ nhọc tranh đấu bảo vệ nước Tòa thánh khỏi chế độ phong kiến hỗn loạn. Sau khi tìm ra Tân Thế giới (1492), tức Mỹ châu, công cuộc truyền giáo đã được mở rộng sang đó. Năm 1500, ngài tuyên bố năm Toàn xá, và đích thân cử hành các lễ nghi long trọng giữa Hồng-y-đoàn, hàng Giáo phẩm và cả trăm ngàn giáo dân từ các nơi kéo đến. Đức Alexanđrô VI lâm bệnh và từ trần, sau khi chịu đủ các bí tích một cách rất sốt sắng.

Lên kế vị Alexanđrô VI là đức hồng y Francesco Piccolomini, cháu đức Piô II, hiệu là Piô III (1503). Triều đại này không có gì đáng ghi vì chỉ được 26 ngày.

Một cuộc bầu cử chớp nhoáng, hầu như mọi người đồng ý nhưng không khỏi có sự mua chuộc, đã đưa hồng y Giuliano Rovere, 60 tuổi, lên ngôi Giáo hoàng, tức Giuliô II (1503-13). Ngài có đức tính cương trực, nóng nảy, thế tục, xứng một ông vua, ông tướng hơn là Cha chung Giáo hội. Sự khát vọng quyền bính, không phải cho mình hay cho gia đình, nhưng cho ngôi Giáo hoàng, và sự ham thích nghệ thuật, là hai yếu tố thúc đẩy ngài làm việc không biết mệt. Nhiệm vụ chủ chăn được đặt xuống hàng thứ yếu.[28]

Là con người có hồn nghệ sĩ, đức Giuliô đã thực hiện những công trình thật vĩ đại. Dưới sự hướng dẫn và khuyến khích của ngài, những nhà nghệ thuật nổi danh của nước Ý đã tạo nên nhiều kỳ công kiệt tác: Bramante với đồ án vĩ đại xây vương cung thánh đường mới (đặt viên đá đầu tiên năm 1506), Michel Ange với bức họa trứ danh trên trần nguyện đường Sixtino và tượng Môisen trên mộ Giáo hoàng, Raphael với những bích họa lộng lẫy rải rắc khắp cung điện Vatican. Đó là thời hoàng kim của Văn nghệ Phục hưng.

Đức Giuliô II đã cải cách và gây sức mạnh cùng sự ổn định cho nước Tòa thánh, nhằm đem lại cho ngôi Giáo hoàng quyền độc lập và hoạt động chính trị. Trước hết, ngài trục xuất Ces­arano Borgia ra khỏi Hồng-y-đoàn, rồi trong một chiến dịch mùa đông do ngài đích thân cầm quân, đã tái chiếm được Perusa và Bolonia (1506). Việc gia nhập “Liên minh Cambrai”, gồm có hoàng đế Maximilian I (1493-1519), Pháp quốc, Tây Ban Nha và một vài nước khác, đã giúp đức Giuliô thu hồi tỉnh Romania (1509). Theo một nghĩa nào đó, ngài được coi là “vị cứu tinh của ngôi Giáo hoàng”, và là người tái thiết nước Tòa thánh.

Sau đó, đức Giuliô dấn thân vào một công việc vô cùng khó khăn và nguy hiểm, là đánh đuổi người Pháp đang chiếm đóng thành Milan ra khỏi nước Ý. Trước hết ngài thanh toán Alfonso Este, chồng của Lucrecia Borgia, quận công xứ Ferrara và là đồng minh của nước Pháp. Vua Louis XII (1495-1515) nước Pháp ra tay đối phó bằng lệnh truyền cho quốc dân mình cắt liên lạc với Roma và họp công đồng thành Tours (1510) chống Giuliô II. Mùa thu năm 1511, năm hồng y bất mãn cũng họp công đồng Pisa và đứng về phe vua nước Pháp. Kế đó, thêm hoàng đế Maximilian I, là người bấy giờ có tham vọng được hội đồng hồng y bầu làm Giáo hoàng, khi đức Giuliô II lâm bệnh nặng vào tháng 8 năm 1511.

Đứng trước tình thế nguy hiểm ấy, đức Thánh Cha vẫn không nao núng tinh thần. Nhớ lại lời hứa tại hội đồng tuyển cử năm 1503 là trong vòng 2 năm sẽ triệu tập đại Công đồng, đức Giuliô liền quyết định làm công việc đó. Đại Công đồng Latran V khai mạc ngày 23.5.1512, quy tụ 15 hồng y và 79 giám mục phần nhiều người Ý, ngoài ra còn có hai vua nước Anh và Aragon, đến sau thêm hoàng đế Maximilian. Công đồng lên án nhóm hồng y “ly khai” họp ở Pisa, bấy giờ đã di chuyển sang Milan.

Kế tiếp Giuliô II là đức Leô X (1513-21), thuộc hàng quí tộc Médicis, được đặt làm hồng y từ hồi 13 tuổi, và khi lên ngôi Giáo hoàng mới 37 tuổi. Đây là nhà nhân bản học say sưa văn chương và nghệ thuật. Giáo triều lúc này trở thành nơi viết sách, vịnh thơ và triển lãm nghệ thuật. Đức Leô X trong phẩm phục Giáo hoàng tham dự những buổi trình diễn văn nghệ, săn bắn, hội hè. Cả khi giáo phái Tin lành đang làm sôi động khắp Tây phương, ngài cứ điềm nhiên như không có việc gì lo ngại. Việc canh tân Giáo hội không bao giờ được nói đến. Ngài cũng bị mang tiếng là quá lo cho gia tộc mình, khi tự ý giành lấy công quốc Urbino cho con cháu (1516).[29]

Đối với nước Pháp, đức Leô X đã đạt được một thành công lớn về ngoại giao. Năm 1513, ngài thuyết phục được vua Louis XII bỏ nhóm hồng y ly khai bấy giờ đã đưa nhau sang Lyon, và nhìn nhận Công đồng Latran V. Ngày 18.8.1516, đức Thánh Cha ký thỏa hiệp Bolonia với vua Francois (1515-47), người đã tái chiếm thành Milan sau trận Marignan (1515). Thỏa hiệp này nhìn nhận sự hủy bỏ văn kiện Pragmatique Sanction de Bourges (1438). Tuy nhiên Tòa thánh cũng phải hy sinh và nhượng bộ nhiều, đó cũng là để tránh một cuộc ly giáo có thể xảy ra. Thỏa hiệp được Công đồng Latran V chấp nhận trong phiên họp II ngày 19.12.1512. Cũng trong phiên họp này, đức Thánh Cha công bố Tông chiếu Pastor aelernus lên án văn kiện Pragmatique Sanction de Bourge, và luận phi chủ trương quyền tối thượng thuộc đại Công đồng. Đồng thời, ngài tuyên bố Giáo hoàng Roma có quyền trên các Công đồng và chỉ mình ngài được triệu tập, di chuyển và giải tán. Về tín lý, trong phiên họp thứ 8 (19.12.1513), Công đồng, tuyên bố sự bất diệt của linh hồn chống lại triết gia Pletro Pamponazzi (+ 1523). Sau hết, công đồng công bố mấy Sắc lệnh về việc tổ chức Giáo triều, bầu giám mục, dạy giáo lý, quản trị tài sản Giáo hội, v.v... Công đồng bế mạc ngày 16.3.1517.

Việc Alfongso Petrucci và một nhóm hồng y mưu sát đức Thánh Cha năm 1517 nói lên tình hình Roma và Hồng-y-đoàn. Petrucci bị án tử hình, nhưng chỉ làm cho tình trạng càng thêm đen tối. Cũng năm ấy, sự thống nhất Giáo hội Tây phương đổ vỡ, điều mà nhiều người đã đoán trước. Bốn năm cuối cùng của đức Leô X (+ 1.12.1521) là những năm nhiều biến cố thê thảm nhất cho Giáo hội.

 

[1] Sách tham khảo: Dom Ch. Poulet: Histoire du Christianisme Paris 1934-40, Q. II, 757-81 và Q. III. tr 1-379 - Ch. Bémont: Histoire de l’Europe au Moyen Âge (1270-1493), Paris 1931 - J. Huizinga: Le décclin du Moyen Âge (bản dịch của J. Bastin) Paris 1932 - M. H. Vicaire: Les craquements du monde Médiéval, trong Histoire illustrée de l’Église (G. de Plinval - R. Pittet), Paris 1946-48, Q. I, tr 461-503- C. Bihlmeyer- H. Tuchle: Histoire de l’Église (bản dịch của D. Grandclaudon), Paris 1962-68, Q. III. tr 15-168.

[2] Người thời bấy giờ có cảm tình với Philippe le Bel, con người ít nói, đạo đức, trong sạch, khắc khổ, hơn là với Bonifaciô VIII tuy học thức cao, nhưng tính tình nóng nảy, dễ đi từ thái độ “đối thoại” sang thái độ “trịch thượng”. Các sử gia thường đồng ý với nhau khi nói Bonifaciô VIII, nhưng bất đồng về Philippe le Bel. Michelet và Renan coi Philippe là một chính trị gia “thực tế” chống Giáo hội, nhiều sử gia khác lại cho ông là người tầm thường bị một số luật gia giật giây. Những ý kiến trên không hợp với nhiều sử gia thời nay. R. Fawtier trong: L’Europe occidentale... (Paris 1940, tr 300) và Les Capétiens et la France (Paris 1942, tr 38-42), cho rằng Philippe muốn trung thành với đường lối chính trị của Louis IX (được đức Bonifaciô tuyên thành năm 1297) trong việc bảo vệ chủ chính quyền của mình, cũng như trong việc truy nã những người mà ông cho là lạc giáo hoặc có tội, đàng khác ông là người kiêu căng mặc dầu có đời sống khắc khổ.

[3] Đế quốc La Đức thế kỷ XI có cuộc nội chiến tranh giành ngôi báu giữa Welf­ II xứ Bavaria, cháu Henry quận công xứ Saxonia, và Conrad III quận công xứ Suaben nhà Hohenstauphen. Conrad sinh tại lâu đài Weiblingen, do đó đảng ông có tên là Gibelin, còn đảng của Welf man tên Guelfe. Conrad III đã chiến thắng tại trận Weinsberg (1140), từ đó nhà Hohenstauphen cai trị đế quốc cho đến năm 1250. Chính trong trận chiến nói trên, hai danh từ Guelfe Gibelin lần thứ nhất được sử dụng. Cuộc tranh giành giữa hai đảng được đem sang đất Ý vào thời tranh chấp giữa ngôi Giáo hoàng và Hoàng đế từ cuối thế kỷ XII. Đảng Guelfe mang tên là “Bạch đảng” đặt trụ sở ở Milan, ủng hộ Giáo hoàng đòi quyền độc lập cho nước Ý và có khuynh hướng dân chủ, đảng Gibelin xưng mình là “Hắc đảng” có trụ sở ở Pavia, trung thành với Hoàng đế và chủ trương phong kiến. Chiến tranh giữa hai đảng đã gây tang thương và đổ nát cho nước Ý và thành Roma suốt thế kỷ XIV và XV, chỉ chấm dứt khi vua Charles VIII (1483-98) nước Pháp đem quân vào Ý năm 1494 (dưới triều Alexandrô VI).

[4] Sách tham khảo: C. Mollat: Les papes d’Avignon (1305-1378), Paris 1930 - F. Déprez: Les préliminaires de la guerre de cent ans, la papauté, la France et l’Angleterre (1328-1342), Paris 1902 - R. Brun: Avignon au temps des papes Paris 1928.

[5] Dòng Hiệp sĩ này (thiết lập 1119) đã chấm dứt sứ mạng của mình sau khi Đất Thánh mất hẳn về tay Thổ Nhĩ Kỳ (cuối thế kỷ XIII), nhưng vẫn còn hoạt động trong nhiều nước Tây phương, trở nên giàu có, giữ việc quản trị tài sản cho Tòa thánh và nhiều vua chúa. Hình như để tịch thâu tài sản khổng lồ của dòng này cũng như để diệt đi một lực lượng “nguy hiểm”, Philippe le Bel đã dùng áp lực đòi đức Clementê V phải giải tán. Ngày 13.10.1311, đức Thánh Cha ký Sắc lệnh giải tán dòng Hiệp sĩ Đền thờ. Sắc lệnh công bố năm 1312. Của cải thuộc dòng này được trao cho dòng Bệnh viện Thánh Gioan thành Gierusalem bấy giờ có trụ sở trên đảo Rhodes; còn ở Aragon và Bồ Đào Nha các của đó phải trao cho dòng Calatrava và dòng Chúa Kitô. Nhưng ở nước Pháp, Philippe le Bel không đợi Sắc lệnh của Giáo hoàng, ngay từ năm 1307, ông đã cho lùng bắt nhiều tu sĩ, đưa ra Tòa án rồi kết án thiêu sinh, trong số đó có bề trên tổng quyền Jacques de Molay (1243-1314). Xem Lizerand: Le dossier de l'affaire des Templiers, Paris 1923; Clément V et Philippe le Bel, Paris 1910.

[6] Olivi dạy rằng: “Anima rationalis seu intellectiva non est forma corporis humani per se et essentialiter”

[7] Chiến tranh ở Ý đã làm tiêu hao quỹ Tòa thánh trên hai triệu tiền vàng. Dưới triều Innocentê VI, chiến tranh đòi quá số tiền thu được, khiến Giáo hoàng phải vay mượn khắp nơi. Xem Mollat Les papes d’Avignon, Paris 1920, tr 379.

[8] Avignon bấy giờ thuộc nhà Anjou cai trị xứ Sicilia (kinh đô Napoli), nhưng cạnh đấy Tòa thánh có khu đất Comtat Venassin từ năm 1274. Năm 1348, nữ hoàng Jeanne I xứ Sicilia bán thành Avignon cho Tòa thánh với giá 80.000 tiền vàng Avignon và Comtat Venaissin thuộc quyền Tòa thánh cho đến năm 1791, là năm đại Cách mạng chiếm lấy, đem sáp nhập vào nước Pháp.

[9] Xem N. Denis-Boulet: La Carrière politique de sainte Catherine de Sienne, Paris 1933. Đức Piô XII đã đặt thánh nữ làm bổn mạng thành Roma, đức Piô XII tôn thánh nữ làm bổn mạng cả nước Ý.

[10] Sách tham khảo: Salembier: Le Grand Schisme d’Occident, Paris 1921 - Noel Valois: La France et le Grand Schisme d'Occident. Paris 1896-1902 - Perroy: L’Angleterre et le Grand Shisme, Q. I, Richard II, Paris 1933 - M. de Bouard: La France et l’Italie au temps du Grand Schisme d'Occident, Paris 1936.

[11] Đức Clementê VII và người kế vị ngài là đức Beneđictô XIII không được ghi tên trong sổ các Giáo hoàng nhưng Giáo hội không bao giờ chính thức phán quyết về hai vị, cũng như các Giáo hoàng khác đã được bầu lên trong thời Ly giáo.

[12] Thời này, Giáo hoàng phải rời bỏ Roma vì lý do chiến tranh giành ngôi báu ở Napoli. Năm 1397, Ladislas (Lancelot) người thành Angers (Anjou) lật đổ Louis II nhà Anjou chiếm ngai vua Napoli và Sicilia. Ladislas có tham vọng chiếm cả Ý Đại Lợi, nhưng ông bị Louis II đánh bại ở Roca-Secca (1411). Tuy nhiên, Ladislas ông đã chiếm được thành Roma và vùng phụ cận (1413), ông mất năm 1414.

[13] H. Jedin: Breve Historia de los Concilios, Barcelona 1960. tr 79-89, 89-96

[14] Ngay từ khi cuộc ly khai bắt đầu, một số tiến sĩ cho mình là “bộ óc” phán quyết các giám mục chỉ là “cánh tay” để thi hành. Đối với các vị tiến sĩ này, chức của họ cũng là một bí tích, như chức linh mục. Xem Salembier: Le Grand Schisme. Paris 1921, tr 212-300.

[15] Gregori XII từ trần sau khi thoái vị được mấy tháng, thọ 90 tuổi. Gioan XXIII đến sau được trả tự do, ngài đến Roma nhận quyền đức Martin V, được đặt làm giám mục Tusculum và là niên trưởng Hồng-y-đoàn, ngài qua đời năm 1419. Beneđictô XIII cũng từ trần năm 1423, thọ 90 tuổi, các hồng y theo ngài bầu một kinh sĩ thành Valencia lên kế vị, tức Clementê VIII. Nhưng không được mấy người theo, Clementê VIII đã từ chức năm 1429. Khi bàn về ông “già gân” Pedro de Luna (Beneđictô XIII), linh mục Gerson có dựa theo một câu trong Thánh Kinh (Tv LXXI, 7) để châm biếm: “Hòa bình chỉ đến với Giáo hội, khi nào mặt trăng không còn chiếu sáng” (“Orietur in diebus ejus justitia, et abundantia pacis, donec auferatur luna”, “Triều đại Người, đua nở hoa công lý, và thái bình thịnh trị, tới khi nao tuế nguyệt (mặt trăng) chẳng còn”).

[16] Nói về ba Giáo hoàng rời khỏi ngai để nhường chỗ cho một vị mới, Von der Hardt, trong cuốn Magnum Oecumenicum Constansiense Concilium, Francfort và Leipzig 1697-1700, có viết: “Observas in Joanne XIII miserabile spectaculum. in Gregorio XII mirabile factum, in Benedicto XIII lacrymabile exemplum” (Hãy coi Gioan XXIII một trò cười, Gregori II một hành động đáng phục. Benedictô XIII một tấm gương làm chảy nước mắt).

[17] C. Bihlmeyer- H. Tuchle: op. cit., Q. III, tr 70-91, 116-120.

[18] P. Vignaux. La pensée au Moyen-âge. Paris 1938 - Vacant-Mangenot Amann: Nominalisme trong Dict. de Théol. Cath

[19] Xem Delacroix: Essai sur le mysticisme spéculatif en Allemagne au XIVe siècle. Paris 1890 - F. X. de Homstein: Les grands mystiques allemands du XIVe siècle, Luceme 1922 - A. Hyma. The Christian Renaissance, History of the Devotio moderna, Grand Rapids (USA) 1924 - E. Bruggeman: Les mystiques flamands et le renouveau catholique francais, Lille 1928 - P. Groult Les mystiques des Pays-Bas et la literature espagnole du XVIe si, Louvain 1926.

[20] C. Bihlmeyer - H. Tuchle: op. cit., Q. III, tr 105-116.

[21] Xem F. Tocco: La questione della povertà nel secolo XVI, Napoli 1910 - L. Oliger Documenta inedita ad historiam Fralicellorum spectantia, Quaracchi 1913.

[22] C. Bihlmeyer - H. Tuchle: op. cit., Q. III, tr 120-139 - Xem Ph. Monnier Le Quattrocento, Paris 1901 - H. Nordstrom: Moyen-Âge et Renaissance, Paris 1933.

[23] C. Bihlmeyer - H. Tuchle: op. cit., Q. III, tr 139-144 - Xem P. Imbard de la Tour: L’Église Catholique, la crise et la Renaissance. Paris 1909- E. Gilson: Humanisme médiéval et Renaissance, trong Les idées et lettres. Paris 1932, tr 171-196.

[24] Xem C. Schlumberger Le siège, la prise et le sac de Constantinople par les Turcs en 1453. Paris 1915 - L. Bréhier L’Église et l'Orient au Moyen-Âge, les croisades, Paris 1928, tr 215-348.

[25] C. Bihlmeyer H. Tuchle: op. cit., Q. III. tr 145-154 - Xem Rodocanachi: Histoire de Rome, u­ne cour princière au Vatican pendant la Renaissance, Sixt­e IV, Innocent VIII, Alexandre VI (1471-1502), Paris 1925.

[26] Đức Alexanđrô VI thật sự là một nhân vật có đời sống không tốt đẹp, lịch sử Giáo hội cũng phải than trách điều đó. Nhưng người ta nhất là kẻ thù của ngài (Giovanni Burchard chẳng hạn), đã thêu dệt quá nhiều đến độ tiểu thuyết hóa cuộc đời ngài, nhằm bôi nhọ gia đình Borgia (Tây Ban Nha) đang nắm quyền ở Roma. Chưa nói đến những người khác muốn lợi dụng đời sống cá nhân của Alexanđrô để chế giễu đạo Công giáo. Xem Larousse du XXe siècle (Alexandre VI, Q. I, tr 134): “Alexandre VI (Rodrigo Borgia), c’est ­un personnage presque légendaire, dont il est difficile de déméler les traits historiques, que le romantisme a déformée” (Alexanđrô là một nhân vật hầu như của truyện hoang đường khó phân biệt sự thật lịch sử, đã bị bóp méo để viết thành thiên tiểu thuyết)

[27] Xem Roeder: Savonarole (bản dịch Pháp văn của Bl. Prenez), Paris 1933. Cha Savonarola hiện đang được Tòa thánh xúc tiến việc tuyên bố chân phước.

[28] Xem J.A. Duménil: Hist De Jules II, Paris 1873.

[29] Xem G. Truc: Léon X et son temps. Paris 1941.